CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Để giới thiệu khái quát vấn đề nghiên cứu của luận án, trong chương này tác giả trình bày: sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình thực hiện nghiên cứu và bố cục của luận án. SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU 1. Bối cảnh thực tiễn Hệ thống ngân hàng là kênh trung chuyển nguồn vốn nhàn rỗi sang nguồn vốn đầu tư. Với chức năng trung gian tín dụng, nghiệp vụ huy động vốn, cho vay và đầu tư của ngân hàng thương mại (NHTM) đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia và thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa thông qua các dịch vụ thanh toán của NHTM.
Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống NHTM và sự phát triển của nền kinh tế có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2007 đạt mức cao nhất cho tới nay ở mức 8. Tuy nhiên sau đó, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính nổ ra tại Mỹ vào năm 2008 và lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế liên tục giảm vào những năm 2008 và 2009.
Sang năm 2010, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhưng từ năm 2011 tăng trưởng kinh tế lại suy giảm trở lại.1: Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2019 Nguồn: Ngân hàng thế giới 2 Cùng với những khó khăn của nền kinh tế trong giai đoạn này, những tồn tại, hạn chế của hệ thống ngân hàng Việt Nam được tích tụ trong nhiều năm có nguy cơ gây mất an toàn hoạt động của hệ thống NHTM và ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô. Tín dụng cho nền kinh tế tăng nhanh nhưng chất lượng tín dụng của các NHTM thấp. Theo báo cáo của các NHTM, đến cuối năm 2011 nợ xấu của toàn hệ thống là 82.700 tỷ đồng tương đương 3.30% tổng dư nợ cho nền kinh tế. Nếu phân loại nợ theo chuẩn mực quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM có thể lên tới 2 chữ số (Tổ chức xếp hạng Fitch Rating đánh giá ở mức 13%).
Đến cuối năm 2011, dự phòng rủi ro (dự phòng cụ thể và dự phòng chung) tương đương 26.67% nợ xấu (theo nợ xấu của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng), thấp hơn so với nhiều nước. Tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều nếu phân loại nợ theo tiêu chuẩn quốc tế. Hơn nữa, tỷ lệ tổng dư nợ tín dụng so với GDP đến cuối năm 2010 là 116%, cao hơn các nước : Indonesia là 35.11%, Ấn Độ 49%, Hàn Quốc 105%, Singapore 85. Mặt khác, hệ thống doanh nghiệp phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng nhưng hiệu quả kinh doanh thấp, tài chính kém lành mạnh: theo số liệu giám sát đến cuối năm 2011 của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, chỉ tính riêng 2,649 khách hàng thua lỗ có tổng dư nợ tín dụng 67,911 tỷ đồng tương đương 2.7% tổng dư nợ tín dụng của toàn ngành; 1% khách hàng vay ngân hàng chiếm 13.6% tổng dư nợ tín dụng có hệ số nợ so vốn chủ sở hữu từ 3 lần trở lên.
Theo quy định của Nghị định của Chính phủ số 141/2006/NĐ-CP các NHTM phải đáp ứng mức vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng đến cuối năm 2010, tuy nhiên đến cuối năm 2011 còn 3 NHTM chưa đáp ứng được mức vốn tối thiểu nói trên và số NHTM có mức vốn điều lệ dưới 5. Hiệu quả tài chính của các hệ thống NHTM ở mức khá thấp so với mức độ rủi ro cũng như các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Năm 2010, chênh lệch thu nhập, chi phí so với vốn chủ sở hữu (ROE) là 17.19% và chênh lệch thu nhập, chi phí so với tài sản có (ROA) chỉ ở mức 1. Trước những yếu kém của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng cũng như yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (Khóa XI) đã ra Kết luận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011 nêu rõ “Trong 5 năm tới, cần tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng nhất: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính 3 với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước”.
Ðầu năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 với trọng tâm chỉ đạo điều hành là thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, bắt đầu từ tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu doanh nghiệp và tái cơ cấu hệ thống tài chính - ngân hàng. Đề án 254 tái cấu trúc hệ thống các TCTD tại Việt Nam giai đoạn 1 từ năm 2011 – 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ mục tiêu là tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các TCTD; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các TCTD; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng. Tiếp tục tái cấu trúc hệ thống các TCTD giai đoạn 2, chính phủ đã phê duyệt Đề án 1058 “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017. Để khắc phục các khó khăn, vướng mắc, bất cập về pháp lý trong quá trình xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của TCTD, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã trình Chính phủ, Quốc hội xem xét thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD.
Nghị quyết 42 đã tạo lập cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các TCTD, tổ chức mua bán nợ xấu. Tổng quan nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả trên thế giới và tại Việt Nam đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu hiệu quả tài chính phổ biến là DEA, thống kê t. Nghiên cứu sử dụng phương pháp DEA là nghiên cứu của các tác giả: Can và Ariff (2008) tại 04 nước: Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan và Phillipin, Nguyễn Việt Hùng (2008), Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012), Phan Thị Hằng Nga và Nguyễn Phương Thanh (2016) tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng thống kê t là nghiên cứu của các tác giả: Cornett và cộng sự (2010a) tại 16 nước khu vực châu Á, Bilal và Amin (2015) tại Pakistan, Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2015) tại Việt Nam.
Các tác giả này đã thực hiện so sánh hiệu quả tài chính của NHTM cho 2 giai đoạn như trước và sau khủng hoảng (Bilal và Amin (2015)), trước và sau tái cấu trúc (Can và Ariff (2008), Phan Thị Hằng Nga và Nguyễn 4 Phương Thanh (2016)), so sánh hiệu quả tài chính của 2 nhóm NHTM nhà nước và NHTM tư nhân (Nguyễn Việt Hùng (2008), Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2015). Các nghiên cứu về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các NHTM trên thế giới và tại Việt Nam như: Dziobek và Pazarbasioglu (1998), Curak và cộng sự (2012), Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2015), Kithinji và cộng sự (2017), Võ Xuân Vinh và Nguyễn Hữu Huân (2018). Một số nghiên cứu chuyên sâu về tác động của tái cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của NHTM như Osoro (2014), Hsiao và cộng sự (2010) hay tác động của tái cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của NHTM: Williams và Nguyen (2005), Berger và cộng sự (2005), Patti và Hardy (2005), Thoraneenitiyan và Avkiran (2009) Lin và Zhang (2009, Badreldin và Kalhoefer (2009), Lin và cộng sự (2016); nghiên cứu tác động của tái cấu trúc hoạt động đến hiệu quả tài chính của các NHTM: Samina và Zaman (2015), AlAli (2020). Khoảng trống nghiên cứu Một là, khoảng trống nghiên cứu về hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam: Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả tài chính của NHTM cho thấy các tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau (DEA, thống kê t) tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam.
Tác giả nhận thấy, Việt Nam đã thực hiện tái cấu trúc giai đoạn 1 từ năm 2012, tái cấu trúc giai đoạn 2 từ năm 2016 nên cần so sánh, đánh giá hiệu quả tài chính trung bình của các NHTM Việt Nam giai đoạn tái cấu trúc (2012-2015, 2016-2019) so với trước tái cấu trúc (2007-2011). Đồng thời, cần so sánh, đánh giá hiệu quả tài chính trung bình của các nhóm: NHTM_NN và NHTM_CP, NHTM có tham gia M&A và NHTM không tham gia M&A. Đây là khoảng trống nghiên cứu về hiệu quả tài chính của NHTM Việt Nam mà chưa có nghiên cứu nào thực hiện. Hai là, khoảng trống nghiên cứu về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam: Đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng tái cấu trúc ngân hàng được thực hiện chủ yếu để tăng cường hiệu quả tài chính và đôi khi, áp dụng các biện pháp hỗ trợ của chính phủ để giảm khả năng khủng hoảng tài chính có thể có tác động đến quốc gia hoặc toàn cầu (Birchil và Simmons, 2010).
Một số nghiên cứu trên thế giới về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả tài chính của các NHTM như: Dziobek và Pazarbasioglu (1998), 5 Dziobek và Pazarbasioglu (1998), Curak và cộng sự (2012), Kithinji và cộng sự (2017). Một số nghiên cứu chuyên sâu về tác động của tái cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của NHTM như Osoro (2014), Hsiao và cộng sự (2010) hay tác động của tái cấu trúc sở hữu đến hiệu quả tài chính của NHTM: Williams và Nguyen (2005), Berger và cộng sự (2005), Patti và Hardy (2005), Thoraneenitiyan và Avkiran (2009) Lin và Zhang (2009, Badreldin và Kalhoefer (2009), Lin và cộng sự (2016); nghiên cứu tác động của tái cấu trúc hoạt động đến hiệu quả tài chính của các NHTM: Samina và Zaman (2015), AlAli (2020).