CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN I. Sơ lược về khoáng ilmenite I. Sa khoáng, cát đen Sa khoáng Sa khoáng (còn gọi là trọng sa) là lớp cát sỏi có chứa nhiều khoáng vật có ích, thành tạo do sự phá huỷ đá gốc. Khi đá gốc bị phá huỷ, nhiều khoáng vật bị hoà tan, biến thành đất và bị nước cuốn đi, các khoáng vật vững bền thường đọng lại lẫn với cát sỏi ở gần chân núi, hoặc tạo nên các bồi tích, các tàn tích hoặc các bãi cát ven biển.
Khi dùng máng đãi, các khoáng vật nặng (trọng sa) như vàng, caxiterit, vonfram, rubi, saphia, cromit, ilmenite. thường đọng dưới máng đãi. Việt Nam có nhiều mỏ sa khoáng như sa khoáng vàng, caxiterit, vonfram ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), sa khoáng cromit ở Cổ Định (Thanh Hoá), sa khoáng ilmenite ở ven biển Hà Tĩnh,…[10,11]. Cát đen Cát đen là một loại sa khoáng quí hiếm ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới.
Cát đen là hỗn hợp của loại cát mịn bóng có màu đen và có một ít từ tính, được tìm thấy ở lớp bồi tích phù sa. Trong cát đen thường chứa nhiều các kim loại quý có giá trị như: các nguyên tố đất hiếm, thori, titan, vonfram, zirconi và các nguyên tố khác. Ở Việt Nam, cát đen được tìm thấy phân bố dọc các tỉnh ven biển miền trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Hiện nay việc khai thác cát đen ở Việt Nam chủ yếu để xuất quặng thô tách lấy titan và một số kim loại quý khác.
Cát đen với thành phần chính là rutile (TiO 2 ), zircon (ZrSiO 4 ) và ilmenite (FeTiO 3 ) đây là nguồn nguyên liệu quí cho nhiều ngành công nghiệp hiện đại. Theo kết quả thăm dò địa chất, ở Việt Nam có hai nguồn quặng: nguồn quặng gốc có trữ lượng lớn (4,5 triệu tấn) tập trung tại miền núi Thái Nguyên và nguồn quặng sa khoáng (có tổng trữ lượng khoảng 16 triệu tấn) tạo thành những vùng mỏ rải rác ở các tỉnh ven biển miền trung. Các sản phẩm điều chế được từ cát đen như ilmenite được sử dụng trong sản Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM Khóa luận tốt nghiệp Luan van SVTH: Nguyễn Hoài Phương GVHD: TS.
Phan Thị Hoàng Oanh xuất que hàn, đá mài., zircon được sử dụng trong sản xuất sành, sứ, linh kiện điện tử.tạo độ cứng cho sản phẩm. Đặc biệt, rutile với tính chất siêu nhẹ, siêu bền, độ dẫn nhiệt thấp chủ yếu được dùng trong các ngành kĩ thuật như sơn dầu, giấy, nhựa tổng hợp, cao su, men sứ, da, sợi nhân tạo và các ngành kĩ thuật hiện đại, nhất là công nghiệp quốc phòng và hàng không vũ trụ. Việt Nam là một trong những nước đứng đầu thế giới về sản lượng xuất khẩu cát đen, trong đó xuất thô khoảng 500 ngàn tấn và khoảng 200 ngàn tấn đã qua tách tuyển với giá bán thô từ 50 - 200 USD/tấn. Tuy nhiên, ở nước ta sự khai thác cát đen khá bừa bãi và thiếu qui hoạch, điều này đang làm phí phạm nguồn tài nguyên quốc gia, lại gây tác động xấu đến môi trường như đã từng xảy ra.
Mặc dù nhà nước đã có thông tư qui định không được xuất khẩu quặng nguyên khai có chứa ilmenite, zircon, rutile trong cát đen. Nhưng nguồn sa khoáng quí hiếm này vẫn đang bị nhiều nơi đào đãi và xuất bán rất rẻ. Với tốc độ khai thác như hiện nay thì chỉ một thời gian ngắn nữa nguồn tài nguyên quí giá này sẽ bị cạn kiệt, nếu mất đi sẽ vĩnh viễn không tái tạo được. Mặc dù nguồn cát đen được khai thác và xuất bán rất rẻ như thế, nhưng theo thống kê, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu khoảng 10 ngàn tấn bột titan dioxit với giá gần 3 ngàn USD/tấn từ các nước Nhật Bản, Trung Quốc với tổng giá trị hơn 25 triệu USD.
Nhu cầu chung của thế giới về titan dioxit hiện tại là 4 triệu tấn/năm, dự báo sẽ tăng lên 5 triệu tấn/năm và trong những năm tới Việt Nam cũng sẽ cần khoảng 20 ngàn tấn/năm. Để tiết kiệm và tăng giá trị xuất khẩu loại khoáng sản này, các địa phương cần phải quản lí tốt nguồn mỏ và tổ chức chế biến sâu để làm tăng giá trị của quặng xuất khẩu. Để xây dựng một nhà máy cỡ vừa và nhỏ để chế biến zircon siêu mịn chỉ tốn khoảng 3 triệu USD và đầu tư một một nhà máy chế biến titan dioxit (pigmen) cũng chỉ tốn từ 3 đến 5 triệu USD/một ngàn tấn sản phẩm. Với công nghệ mới hiện nay, có thể lắp đặt được những dây chuyền công suất nhỏ khoảng 5 ngàn tấn, tương đương 25 triệu USD cho một nhà máy.
Với cách làm này có thể tăng giá trị của cát đen lên hơn 10 lần [10]. Cát đen là nguồn sa khoáng quí hiếm, cần có sự đầu tư của con người và máy móc thiết bị để khai thác, chế biến để làm tăng giá trị. Trong lĩnh vực này một số tỉnh Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM Khóa luận tốt nghiệp Luan van SVTH: Nguyễn Hoài Phương GVHD: TS.
Phan Thị Hoàng Oanh có nguồn sa khoáng cát đen đã nổ lực mở bước đột phá bằng cách chế biến sâu nguồn sa khoáng này (Hà Tĩnh đã có dây chuyền chế biến zircon siêu mịn - công nghệ Tây Ban Nha) để tăng giá trị xuất khẩu và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên quí của Quốc gia. Ngay từ năm 2003 Bộ Công thương và Chính phủ cùng UBND tỉnh Hà Tĩnh đã đồng phối hợp tổ chức Hội nghị tư vấn về khai thác và chế biến sâu quặng chứa cát đen chủ yếu là titan. Thủ tướng Chính phủ giao cho Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh làm đầu mối thu mua quặng titan xuất khẩu và xúc tiến nhanh việc xây dựng một nhà máy sản xuất titan từ cát đen ở Hà Tĩnh, nơi có cung cách quản lý tốt và giàu trữ lượng quặng titan [10]. Tinh quặng Ilmenite Công thức thực ngiệm: FeTiO 3.
Màu sắc: đen, xám với những hạt nâu nhỏ, lấp lánh. Từ tính: yếu. Cấu trúc mạng tinh thể: trigonal – tương tự như mạng tinh thể corundum và hematit. Ilmenite chứa một hàm lượng rõ rệt các nguyên tố như magie, mangan và công thức hóa học dạng đầy đủ có thể viết là (Fe, Mn, Mg, Ti)O 3.
Tuy chứa nhiều nguyên tố hóa học nhưng phần lớn các khoáng chứa chủ yếu là FeTiO 3 , với một lượng rất nhỏ của magie và mangan Hầu hết các quặng illmenite được khai thác với mục đích điều chế titan. Các hạt mịn của titan dioxit có màu trắng, dùng làm nguyên liệu trong sơn dầu, giấy và nhựa tổng hợp. Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM Khóa luận tốt nghiệp Luan van SVTH: Nguyễn Hoài Phương GVHD: TS.
Phan Thị Hoàng Oanh Bảng 1.1: Thành phần khoáng ilmenite Thừa Thiên - Huế [1] Oxide TiO 2 FeO SiO- MnO Al 2 O 3 Cr 2 O 3 MgO P 2 O 5 ZrO 2 2 %wt.Cấu trúc tinh thể ilmenite I. Sơ lược về ứng dụng của TiO 2 Titan dioxit (TiO 2 ) có ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp như: sản xuất chất màu, chất phụ gia trong công nghiệp chế tạo sợi, chất dẻo, săm lốp ôtô, công nghiệp giấy, nhuộm in màu, ngành dược, gốm sứ, vật liệu chịu lửa, thuỷ tinh, công nghiệp điện tử, v. Sơn được làm từ titan dioxit phản chiếu tốt bức xạ hồng ngoại nên được dùng rộng rãi trong ngành thiên văn học và các loại sơn bên ngoài [11]. Tuy nhiên, đặc biệt một số ứng dụng quan trọng của của TiO 2 được quan tâm nghiên cứu nhiều trong thời gian gần đây Tính năng xúc tác quang.
Sản xuất sơn, vật liệu tự làm sạch. Một số tính chất của TiO 2 I. Các dạng tinh thể của titan oxit Trong tự nhiên tồn tại 4 dạng đa hình của titan dioxit là: anatase, rutile, brokite và titan dioxit (B). Trong 4 dạng đa hình, titan được phối trí bát diện với oxi, nhưng vị trí của các thể bát diện không giống nhau đối với các dạng đa hình.
Cấu trúc của rutile Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM Khóa luận tốt nghiệp Luan van SVTH: Nguyễn Hoài Phương GVHD: TS. Phan Thị Hoàng Oanh là đặc khít nhất và tế bào đơn vị là nhỏ nhất [7]. Trong đó, các pha anatase và rutile là phổ biến hơn cả và có nhiều ứng dụng.
Pha anatase tồn tại chủ yếu ở dưới 550oC, trên 600oC, các pha anatase và brokite sẽ chuyển dần thành rutile. Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến các dạng rutile, anatase và brookite. Một số thông số về các pha của TiO 2 [7,8]. Rutile Anatase Brokite Dạng tinh thể Tứ phương Tứ phương sai lệch Trực thoi Khối lượng riêng 4,13 3,79 3,99 (g/cm3) a = 0,917 Kích thước ô đơn vị a = 0,459 a = 0,379 b = 0,546 (nm) c = 0,296 c = 0,951 c = 0,514 2,605 – 2,616; Chỉ số khúc xạ 2,561; 2,488 2,583; 2,700 2,890 – 2,903 Độ cứng theo thang 6 – 6,5 5,5 – 6 5,5 – 6 Moh Hình 1.Ô cơ sở TiO 2 -rutile Hình 1.
Ô cơ sở TiO 2 -anatase I. Sơ lược về khả năng xúc tác quang hóa của TiO 2 [3] I. Quá trình phân hủy oxi hóa bằng gốc tự do hydroxyl Nhiều tác nhân oxi hóa mạnh đều là các gốc tự do, một trong những tác nhân đó là gốc hydroxyl tự do (Thế oxi hóa của gốc *OH là 2,8V, cao hơn 2,05 lần clo, 1,52 Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM Khóa luận tốt nghiệp Luan van SVTH: Nguyễn Hoài Phương GVHD: TS.
Phan Thị Hoàng Oanh lần ozon) Gốc tự do hydroxyl có thể tương tác với các chất ô nhiễm theo các kiểu sau: - Phản ứng với các gốc không no mạch thẳng hoặc vòng thơm tạo các gốc hydroxylat hoạt động * OH + CH 2 =CH 2 → *CH 2 -CH 2 (OH) - Phản ứng tách hydro từ các hợp chất no hoặc không no tạo thành nước và các gốc hoạt động * OH + CH 3 COCH 3 → *CH 2 COCH 3 + H 2 O - Phản ứng trao đổi điện tử tạo ra các gốc ion mới hoạt động * OH + CH 3 -S-C 6 H 5 → [CH 3 -S-C 6 H 5 ]+* + OH− Quá trình phản ứng tiếp tục phát triển nhờ các gốc tự do mới sinh ra theo phản ứng dây chuỗi cho đến khi vô cơ hóa hoàn toàn hoặc dây chuỗi bị đứt. Mục đích của quá trình oxi hóa chất ô nhiễm trong nước và nước thải là vô cơ hóa, tức là chuyển các chất hữu cơ thành vô cơ đơn giản và không độc hại. Cụ thể là quá trình chuyển: - Cacbon trong phân tử chất ô nhiễm thành CO 2. - Hydro trong phân tử chất ô nhiễm thành nước.