chương 1, tác giả đưa ra cái nhìn khái quát chung cho bài nghiên cứu, để đọc giả dễ dàng hình dung được kết cấu của bài nghiên cứu và ý tưởng của đề tài. Với đề tài nghiên cứu này, tác giả đã nêu rõ mục tiêu và lý do chọn đề tài là do trong quá trình hội nhập có rất nhiều chuyển biến thay đổi, cũng như sự gia nhập vốn từ nước ngoài tham gia đầu tư vào các ngân hàng thương mại ngày càng gia tăng, chắc hẳn không tránh khỏi những rủi ro khiến các ngân hàng phải đối mặt, vì vậy tác giả muốn thêm bằng chứng thực nghiệm để các ngân hàng có những giải pháp phù hợp hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Bài nghiên cứu trong giai đoạn 2007 -2017 với số liệu thu nhập của 20 ngân hàng thương mại tại Việt Nam. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT: 2.1 Lý thuyết về rủi ro thanh khoản: 2.1 Định nghĩa rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản phát sinh từ vai trò cơ bản của các ngân hàng trong việc chuyển đổi kỳ hạn giữa các khoản tiền gửi ngắn hạn thành các khoản vay dài hạn (Pavla Vodová, 2011).
Hay nói cách khác, rủi ro thanh khoản là một rủi ro phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng nghĩa vụ của chính mình khi đến hạn. Rủi ro này có thể ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập của cả ngân hàng và nguồn vốn. Do đó, nó trở thành ưu tiên hàng đầu trong việc quản lý của ngân hàng để đảm bảo có đủ tiền để đáp ứng các nhu cầu trong tương lai của các nhà cung cấp và khách hàng vay, với chi phí hợp lý (Ahmed Arif, Ahmed Nauman Anees, 2012). Với cách hiểu ngắn gọn rủi ro thanh khoản được định nghĩa là rủi ro không có khả năng thực hiện các cam kết của người gửi tiền.
Thông thường, vấn đề rủi ro thanh khoản phát sinh do rút tiền gửi lớn khi các ngân hàng không có đủ tiền mặt trong tay (Iqbal, 2012). Trong thực tế, các ngân hàng phải đối mặt với sự mất cân bằng trong tài sản và nợ phải trả của bảng cân đối một cách thường xuyên, do đó, họ cần phải quản lý nó một cách hợp lý, nếu không rất dễ dẫn đến nguy cơ phá sản. Những khả năng xảy ra các thiệt hại đối với lợi nhuận hoặc giá trị thị trường của ngân hàng do việc ngân hàng mất khả năng thanh toán trong phạm vi thời gian và chi phí hợp lý (Lange et al, 2014). Trong khi trước đây rủi ro thanh khoản nó chỉ bao hàm việc không thể chuyển đổi tài sản tài chính thành tiền mặt, nhưng sau này, rủi ro của các ngân hàng còn là việc không thể đáp ứng các khoản nợ tức thời hay có thể đáp ứng nhưng với chi phí cao (Aisyah Abdul-Rahman et al, 2017).
Tóm lại rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc có thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán với lãi suất cao.2 Đo lường rủi ro thanh khoản: Hầu hết những bài nghiên cứu trước đây thường đo lường rủi ro thanh khoản theo phương pháp chỉ số thanh khoản. Họ dùng những chỉ số được tính toán đơn giản như tỷ số giữa tổng tiền gửi và tổng tài sản (Sulaiman, Mohamad & Samsudin, 2013), tỷ số tiền mặt trên tổng tài sản (Akhtar, Ali & Sadaqat, 2011; Anam, Hassan, Ahmed, Uddin & Mahbub, 2012; Abdul karim, 2013; Iqbal, 2012 and Ramzan & Zafar, 2014), tỷ số vốn trên tổng tài sản (Abdullah & Khan, 2012) để đo lường rủi ro thanh khoản. Đặc biệt Pavla Vodová (2011, 2012, 2013), qua nhiều năm nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của một vài quốc gia như cộng hòa Czech, Ba Lan, Hungari, Cộng hòa Slovakia thông qua các chỉ số thanh khoản để đo lường rủi ro thanh khoản như: 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 L1 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 L2 = 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖+𝑐á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 đ𝑖 𝑣𝑎𝑦 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ L3 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ L4 = 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖+𝑐á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 đ𝑖 𝑣𝑎𝑦 Tuy nhiên, việc đo lường thanh khoản chỉ sử dụng tỷ số thanh khoản chưa hiệu quả và nó không phải là sự giải quyết vấn đề (Poorman and Blake, 2005).
Hơn nữa những chỉ số thanh khoản truyền thống này cũng được nhấn mạnh có nhược điểm là nó chỉ bao hàm những thông tin của quá khứ bởi vì số liệu để tính toán là số liệu của những thông tin đã xảy ra, chỉ dựa vào tỷ số của quá khứ để dự báo cho tương lai (Barrel et al, 2009). Vì những những nhược điểm của phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản bằng chỉ số, Sauders and Cornet (2006) đã giới thiệu phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản thứ hai là “Khe hở tài trợ”. Nó được định nghĩa là chênh lệnh giữa số dư nợ bình quân và số dư tiền gửi cơ sở bình quân. Trong định nghĩa nêu trên tiền gửi cơ sở là các khoản tiền gửi có tính chất ổn định, dài hạn, thông thường là từ 123doc 8 tiền gửi của khách hàng thường xuyên.
Nếu khe hở tài trợ dương, theo ông nên sử dụng tiền mặt và tài sản có tính thanh khoản cao hoặc vay trên thị trường tiền tệ để lấp đầy khe hở, tránh tình trạng rủi ro thanh khoản. Công thức về khe hở tài trợ như sau: Khe hở tài trợ = Cho vay bình quân – tiền gửi cơ sở bình quân Khe hở tài trợ = - Tài sản thanh khoản + các nghĩa vụ tài chính Một cách nói khác của về khe hở tài trợ là chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn cả ở hiện tại và tương lai. Vào một thời điểm nào đó, nếu chênh lệnh này dương, đồng nghĩa việc thâm hụt thanh khoản sẽ khiến ngân hàng gặp phải vấn đề rủi ro về thanh khoản (Pavla Vodová, 2011). Khe hở tài trợ thể hiện dấu hiệu cảnh báo về rủi ro thanh khoản trong tương lai của ngân hàng, nếu ngân hàng có khe hở tài trợ dương và ngân hàng có khe hở tài trợ lớn khi đó phải buộc ngân hàng phải giảm tiền mặt dự trữ và giảm các tài sản thanh khoản hoặc đi vay bổ sung thêm trên thị trường tiền tệ, khi đó rủi ro thanh khoản của các ngân hàng sẽ được hạn chế (Đặng Văn Dân, 2015).
Kế thừa phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản của Sauders and Cornet, bài luận văn này sẽ sử dụng phương pháp đo lường theo khe hở tài trợ để phân tích rủi ro thanh khoản.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản xảy ra do sự mất cân đối giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản dẫn đến sự thiếu hụt thanh khoản buộc các ngân hàng thực hiện vay thêm vốn hoặc bán tài sản để bù đắp làm cân đối lại thanh khoản. Rủi ro thanh khoản thường được phân thành hai loại như sau: rủi ro thanh khoản thị trường và rủi ro thanh khoản tài trợ (Ruozi & Ferrari, 2013; Drehmann & Nikolaou, 2013; Iskandar, 2014). Nếu hiểu theo cách trình bày bảng cân đối kế toán của các ngân hàng TMCP rủi ro thanh khoản xuất phát từ hai nguyên nhân: một bên là nợ phải trả và một bên là tài sản. Nguyên nhân xảy ra do bên nợ phải trả là khi chủ nợ của những tổ chức tài chính như người gửi tiền, chủ sở hữu những hợp đồng bảo hiểm,…có nhu cầu rút tiền mặt của họ trong các tổ chức tài chính ngay lập tức, buộc các tổ chức tài chính phải cần thêm nguồn bằng cách vay mượn hoặc bán tài sản để đáp ứng cho việc rút vốn của khách hàng, bởi vì các 123doc 9 tổ chức tài chính có khuynh hướng duy trì tối thiểu tài sản thanh khoản do giữ những tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt,… khả năng sinh lời đem lại không cao.
Chính vì việc vay mượn hay bán tài sản trong thời gian ngắn dẫn đến giá bán sẽ thấp hơn giá so với việc giữ tài sản lâu hơn hoặc lãi suất cho vay sẽ cao hơn, điều này làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu rút vốn của khách hàng. Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ bên phần tài sản. Như đã biết, những cam kết nhận nợ cho phép khách hàng mượn vốn từ nguồn đã được huy động trước đó khi họ có nhu cầu trong phạm vi hạn mức đã được cấp. Để đáp ứng nhu cầu ngay lập tức, các tổ chức tài chính phải sử dụng lượng tiền mặt có sẵn, hoặc bán tài sản thanh khoản, hoặc mượn thêm nguồn từ các tổ chức tín dụng khác (Sauders and Cornet, 2005).
Từ lúc thanh khoản trở thành vấ n đề đáng được quan tâm của các ngân hàng thương mại thì đã có rấ t nhiề u lý luận, nhiề u tác giả đề cập đến những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản. Những nghiên cứu trên tập trung vào hai nhóm yếu tố chính có thể ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại là yếu tố vi mô và yếu tố vĩ mô. Xét đến những yếu tố vi mô hay còn gọi là các yếu tố nội tại của chính bản thân các ngân hàng đó thường bao gồm lợi nhuận, vốn chủ sở hữu, tỷ lê ̣ nợ xấ u, tỷ lê ̣ cho vay trên huy động, quy mô ngân hàng, tỷ lê ̣ dự phòng rủi ro tín dụng hoặc do chính sách hoạch định của các nhà quản trị chưa hợp lý …Còn đối với các yếu tố vĩ mô sẽ bao gồm các yếu tố như tỷ lê ̣ tăng trưởng kinh tế, tỷ lê ̣ thấ t nghiê ̣p, tỷ lê ̣ lạm phát, lãi suấ t cho vay, lãi suấ t cơ bản của NHTW, lãi suấ t bình quân liên ngân hàng, ….2 Lý thuyết về sở hữu nước ngoài: Cơ cấu vốn sở hữu nước ngoài là phần góp vốn của tổ chức hoặc cá nhân vào vốn chủ sở hữu của ngân hàng thông qua việc các ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng. Việc xác định tỷ lệ sở hữu nước ngoài được xác định bằng tỷ lệ cổ phiếu cổ đông nước ngoài nắm giữ trên tổng số cổ phiếu phát hành của ngân hàng.