Chương 1: Tổng quan nghiên cứu (2) Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của doanh nghiệp (3) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (4) Chương 4: Kết quả nghiên cứu (5) Chương 5: Khuyến nghị và hàm ý chính sách 6 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nhân tố tác động đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của doanh nghiệp Liu và Bai (2014) thực hiện một nghiên cứu với dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu với 157 công ty ở Trung Quốc để điều tra về nhận thức và ý định của các doanh nghiệp trong quá trình áp dụng mô hình KDTH. Cuộc phỏng vấn bán cấu trúc bao gồm 18 câu hỏi đóng và một câu hỏi mở.
Các câu hỏi được đo lường bằng thang đo Likert 05 mức độ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp có hiểu biết tương đối tốt về mô hình KDTH và có ý định mạnh mẽ để áp dụng mô hình KDTH. Tuy nhiên, còn tồn tại ba nhóm nhân tố chính cản trở ý định áp dụng này của doanh nghiệp, đó là nhóm nhân tố cấu trúc doanh nghiệp (bộ máy quan liêu kém hiệu quả, thủ tục không tạo thuận lợi động lực cho sự đổi mới, giới hạn quyền lực của người quản lý), nhân tố ngữ cảnh (quy định của chính phủ và thị trường), và nhân tố văn hoá (các đặc tính, thói quen, khẩu vị rủi ro của người quản lý của doanh nghiệp). Rizos và cộng sự (2015) thực hiện một nghiên cứu nhằm xác định các rào cản của việc áp dụng mô hình KDTH của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua phương pháp tổng quan tài liệu, thảo luận nhóm và nghiên cứu điển hình.
Nhóm tác giả chỉ ra một số rào cản có thể cản trở việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng mô hình KDTH như sau: nhân tố văn hoá (đặc biệt thể hiện qua cách lãnh đạo của chủ doanh nghiệp); nhân tố tài chính (nguồn vốn đầu tư ban đầu, chi phí vận hành); thiếu hỗ trợ của chính phủ và hành lang pháp lý hiệu quả; thiếu thông tin về lợi ích và cơ hội mà mô hình KDTH có khả năng đem lại; nhân công trình độ thấp; thiếu sự hỗ trợ từ mạng lưới cung và cầu đặc biệt đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ có ít ảnh hưởng đến lợi ích tài chính của các nhà cung cấp. Trong đó nhân tố quan trong nhất được cân nhắc đó là do doanh nghiệp không có nhân lực chất lượng cao đáp ứng được các yêu cầu của mô hình 7 KDTH, đồng thời doanh nghiệp cũng chưa nhận thức đầy đủ lợi ích, cơ hội của mô hình này. Đáng chú ý, bài nghiên cứu chỉ ra những thế mạnh mà các doanh nghiệp mới thành lập hoặc có quy mô nhỏ đối với việc vận dụng mô hình KDTH như việc chính phủ rất hoan nghênh các doanh nghiệp khởi nghiệp theo mô hình bền vững, và những doanh nghiệp này rất linh động trong việc đổi mới sáng tạo mà không bị ràng buộc với những hệ thống cũ. Trong nghiên cứu của Lewandowski (2016), tác giả tiến hành tổng quan các tài liệu và chỉ ra có nhiều lý do khác nhau để các doanh nghiệp không có ý định áp dụng mô hình KDTH, trong đó bài nghiên cứu đã chia thành hai nhóm nhân tố chính là nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
Các nhân tố bên trong ở đây liên quan đến khả năng nội sinh có thể chuyển đổi theo mô hình KDTH. Những khả năng này thường bao gồm các nguồn lực vô hình như động lực, văn hóa, kiến thức và các thủ tục chuyển đổi. Các nguồn lực này phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển nguồn nhân lực và áp dụng các công cụ quản lý mới dựa trên nguyên tắc của mô hình KDTH của doanh nghiệp. Các nhân tố bên ngoài dựa trên khung phân tích PEST bao gồm chính trị (political), kinh tế (economics), xã hội (social) và công nghệ (technological), ví dụ như: công nghệ quản lý dữ liệu, công nghệ theo dõi vòng tuần hoàn của nguyên, vật liệu, quy định pháp luật giám sát và khuyến khích mô hình KDTH, thói quen của khách hàng, dư luận, v.
Nghiên cứu của Singh và cộng sự (2018) phát triển Lý thuyết về hành vi hoạch định để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tham gia vào mô hình KDTH. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ấn Độ. Tổng số 248 phản hồi hợp lệ đã được ghi nhận. Các câu hỏi được đo lường bằng thang đo Likert 05 mức độ với 01 là ―Hoàn toàn không đồng ý‖ và 05 là ―Rất đồng ý‖.
Mỗi nhân tố sẽ được đo lường bởi bốn đến năm biến quan sát. Những người trả lời cuộc khảo sát bao gồm chủ sở hữu doanh nghiệp, giám 8 đốc điều hành, quản lý và nhân viên cấp cao. Trong đó, số lượng quản lý và nhân viên cấp cao trả lời khảo sát là nhiều nhất. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của thái độ chủ/ quản lý doanh nghiệp, áp lực xã hội, nhận thức kiểm soát hành vi, cam kết môi trường, và khuyến khích kinh tế xanh có tác động tích cực đối với sự sẵn sàng của doanh nghiệp trong áp dụng mô hình KDTH.
Nghiên cứu của Sinha (2020) xem xét một cách có hệ thống các tài liệu và rút ra kết luận về các nhân tố quan trọng có khả năng tác động đến việc áp dụng mô hình KDTH. Nhân tố đầu tiên là kiến thức và cách vận dụng kiến thức của lãnh đạo doanh nghiệp về mô hình KDTH. Trong quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang mô hình KTTH, rất nhiều kiến thức (ví dụ: thông tin về sản phẩm, vật liệu, khách hàng, thị trường, cạnh tranh, môi trường và công nghệ tương lai) cần phải được cập nhật. Nhân tố thứ hai là sự hỗ trợ và khuyến khích của ban lãnh đạo doanh nghiệp.
Tác giả nhấn mạnh rằng cho dù kiến thức của chủ doanh nghiệp là khiêm tốn hay dồi dào thì điều tối quan trọng là phải phân bổ nguồn lực phù hợp, và có khả năng khuyến khích sự cộng tác cùng với thảo luận cởi mở giữa những người trong tổ chức. Các nhân tố khác bao gồm: Tư duy thích ứng của tổ chức nhấn mạnh tìm cách hiểu vòng đời và độ phức tạp của các hệ thống để quản lý chúng tốt hơn; Sự sáng tạo của doanh nghiệp; Khả năng thích ứng với công nghệ tiên tiến; Quy mô doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của Kirchherr và cộng sự (2018), nhóm tác giả đã nhận thấy rằng mặc dù Châu Âu được coi là cái nôi của nền KTTH tuy nhiên các ứng dụng của nền KDTH tại đây cho đến nay mới chỉ đạt được một số thành tựu nhỏ. Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát với 208 doanh nghiệp và 47 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia để chỉ ra bốn rào cản cũng là bốn nhân tố chính tác động đến việc vận dụng mô hình KDTH của doanh nghiệp đó là văn hoá, thị trường, pháp lý, và công nghệ.
Trong đó, nhân tố văn hoá được cấu thành bởi văn hoá doanh nghiệp, sự sẵn sàng hợp tác của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, văn hoá và nhận thức của người tiêu dùng, văn hoá doanh nghiệp trong mô hình kinh 9 doanh tuyến tính. Nhân tố pháp lý được cấu thành bởi quy trình quản lý mô hình KDTH, khung pháp lý, và sự thống nhất của các quốc gia về nguyên tắc của mô hình KDTH. Nhân tố thị trường được cấu thành bởi giá nguyên vật liệu sơ cấp rẻ, sự chuẩn hoá, chi phí đầu tư cao, nguồn đầu tư hạn chế. Nhân tố công nghệ bao gồm công nghệ sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao, thiết kế quy trình KDTH, số lượng dự án quy mô lớn hạn chế, thiếu thông tin.
Ranta và cộng sự (2018) áp dụng lý thuyết thể chế với phương pháp nghiên cứu định tính để khám phá các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình KDTH tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và Châu Âu. Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu điển hình với sáu doanh nghiệp và nhận thấy rằng trong ba trụ cột của thể chế thì hai trụ cột là quy chuẩn xã hội (normative social) và văn hoá nhận thức (cultural- cognitive) có tác động rất lớn đến quy định pháp lý (regulative legal). Nói cách khác, sự hợp lý của bất kỳ sáng kiến nào đều được quyết định thông qua sự kết hợp tổng thể của tất cả các trụ cột thể chế. Cụ thể, mặc dù các nghiên cứu trước đây tập trung vào quy định pháp luật để thúc đẩy mô hình KDTH, nhưng nếu chỉ dựa vào trụ cột này thì không đủ để đạt được thành công.
Trong nghiên cứu của De Jesus và Mendonça (2018), các tác giả đã chỉ ra đổi mới sinh thái là nhân tố quan trọng nhất đối với một mô hình KDTH với ba lý do chính. Đầu tiên, sự đổi mới có thể tạo ra các loại phương tiện mới, hệ thống năng lượng tái tạo hoặc cơ sở tương ứng để đáp ứng các nguyên tắc của mô hình KDTH. Thứ hai, đổi mới có thể giảm bớt gánh nặng và chi phí do các quy định môi trường mới gây ra. Thứ ba, đổi mới có thể hỗ trợ các doanh nhân tương tác trong một mạng lưới tuần hoàn làm trung tâm bằng cách đổi mới các đề xuất giá trị, chuỗi cung ứng, giao diện khách hàng và cấu trúc tài chính.
Do đó, việc nghiên cứu về sự đổi mới của các doanh nhân trong bối cảnh nền KTTH trở nên rõ ràng. Nghiên cứu này tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ đổi mới sinh thái của các doanh nghiệp và chia các nhân tố thành hai nhóm đó là nhân tố cứng và nhân tố mềm. Về nhân tố cứng, các nhân tố mà nhóm tác giả 10 đề cập đến là nhân tố kỹ thuật và nhân tố tài chính. Về nhân tố mềm, nhóm nhân tố được liệt kê là xã hội, thể chế và văn hoá.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự đổi mới trong các mô hình KDTH đặc biệt được thúc đẩy bởi các nhân tố ―mềm‖. Ngay cả khi các nhân tố cứng đã khả thi về mặt kỹ thuật, việc triển khai thực tế của chúng thường bị hạn chế nếu thiếu đi các nhân tố mềm.