Luận án tiến sĩ tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của các doanh nghiệp tại việt nam

Tài liệu chuyên sâu Tác động của nhân tố tài chính và phi tài chính đến mô ..., phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho kinh tế

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

174
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về nhân tố tác động đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của doanh nghiệp

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TÀI CHÍNH VÀ PHI TÀI CHÍNH ĐẾN Ý ĐỊNH ÁP DỤNG MÔ HÌNH KINH DOANH TUẦN HOÀN CỦA DOANH NGHIỆP

2.1. Khái quát nền kinh tế tuần hoàn

2.2. Cơ sở lý luận về mô hình kinh doanh tuần hoàn

2.3. Khái niệm và vai trò của mô hình kinh doanh tuần hoàn

2.4. Cơ hội và thách thức của doanh nghiệp khi áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn

2.5. Cơ sở lý luận về ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của doanh nghiệp

2.5.1. Khái niệm ý định

2.5.2. Nền tảng lý thuyết ý định của doanh nghiệp

2.6. Cơ sở lý luận về nhân tố tài chính và nhân tố phi tài chính

2.6.1. Nhóm nhân tố tài chính

2.6.2. Nhóm nhân tố phi tài chính

2.7. Kinh nghiệm thúc đẩy ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của một số quốc gia trên thế giới

2.7.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

2.7.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

2.7.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1. Phỏng vấn sâu chuyên gia

3.2.2. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

3.3. Thiết kế và đánh giá sơ bộ thang đo

3.3.1. Thiết kế và mã hóa thang đo

3.3.2. Đánh giá sơ bộ thang đo

3.4. Phương pháp thu thập thông tin

3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

3.5. Phương pháp phân tích thông tin

3.5.1. Thống kê mô tả

3.5.2. Phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của các doanh nghiệp tại Việt Nam

4.2. Kết quả đo lường tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của các doanh nghiệp tại Việt Nam

4.2.1. Kết quả thống kê mô tả

4.2.2. Kết quả mô hình phương trình cấu trúc

4.2.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Định hướng phát triển mô hình kinh doanh tuần hoàn tại Việt Nam

5.2. Một số khuyến nghị và hàm ý chính sách

5.2.1. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp

5.2.2. Khuyến nghị đối với các tổ chức tài chính

5.2.3. Hàm ý chính sách đối với cơ quan quản lý nhà nước

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA NCS CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tác động của nhân tố tài chính

Nhân tố tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn tại Việt Nam. Các doanh nghiệp cần có nguồn lực tài chính đủ mạnh để đầu tư vào công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm bền vững. Theo nghiên cứu, nhân tố tài chính không chỉ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư mà còn tác động đến chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp. Doanh thu và chi phí là hai yếu tố chính trong việc đánh giá hiệu quả tài chính. Doanh nghiệp cần phải cân nhắc giữa chi phí đầu tư ban đầu và lợi ích lâu dài từ việc áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn. Một nghiên cứu cho thấy rằng, những doanh nghiệp có khả năng quản lý tài chính tốt hơn thường có xu hướng áp dụng mô hình này một cách hiệu quả hơn. Điều này cho thấy rằng, quản lý tài chính không chỉ là một yếu tố cần thiết mà còn là một yếu tố quyết định trong việc thúc đẩy kinh doanh tuần hoàn.

1.1. Chi phí và doanh thu

Chi phí và doanh thu là hai yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải tính toán chi phí đầu tư vào công nghệ và quy trình sản xuất mới, đồng thời dự đoán doanh thu từ việc áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn. Nghiên cứu cho thấy rằng, những doanh nghiệp có khả năng dự đoán chính xác doanh thu từ mô hình này thường có tỷ lệ thành công cao hơn. Việc giảm thiểu chi phí thông qua việc tái sử dụng nguyên liệu và sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tăng cường lợi nhuận. Do đó, việc phân tích chi phí và doanh thu là cần thiết để đánh giá khả năng áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn.

II. Tác động của nhân tố phi tài chính

Nhân tố phi tài chính cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn. Các yếu tố như nhận thức của doanh nghiệp về môi trường, sự hỗ trợ từ chính phủ và văn hóa doanh nghiệp đều có thể tác động đến quyết định áp dụng mô hình này. Theo nghiên cứu, nhân tố phi tài chính như sự nhận thức về lợi ích môi trường và xã hội có thể thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn. Doanh nghiệp có thể nhận thấy rằng việc áp dụng mô hình này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Hơn nữa, sự hỗ trợ từ chính phủ thông qua các chính sách khuyến khích và ưu đãi cũng là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc chuyển đổi sang mô hình kinh doanh tuần hoàn.

2.1. Nhận thức và văn hóa doanh nghiệp

Nhận thức và văn hóa doanh nghiệp có thể ảnh hưởng lớn đến quyết định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn. Doanh nghiệp cần có một văn hóa khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo để có thể áp dụng mô hình này một cách hiệu quả. Nghiên cứu cho thấy rằng, những doanh nghiệp có văn hóa doanh nghiệp tích cực thường có xu hướng áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn tốt hơn. Sự tham gia của nhân viên trong quá trình ra quyết định cũng là một yếu tố quan trọng, giúp doanh nghiệp có cái nhìn đa chiều hơn về lợi ích của mô hình này.

III. Tác động từ môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế cũng có tác động lớn đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn. Các yếu tố như chính sách kinh tế, thị trường và cạnh tranh đều có thể ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp. Theo nghiên cứu, một môi trường kinh tế ổn định và có chính sách hỗ trợ cho mô hình kinh doanh tuần hoàn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải nắm bắt được xu hướng thị trường và điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình cho phù hợp. Việc áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thị trường.

3.1. Chính sách và thị trường

Chính sách của chính phủ và tình hình thị trường có thể ảnh hưởng đến quyết định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn. Doanh nghiệp cần phải theo dõi các chính sách mới và điều chỉnh chiến lược của mình cho phù hợp. Nghiên cứu cho thấy rằng, những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường có chính sách hỗ trợ cho mô hình kinh doanh tuần hoàn thường có tỷ lệ thành công cao hơn. Hơn nữa, việc nắm bắt xu hướng thị trường cũng là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể áp dụng mô hình này một cách hiệu quả.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của các doanh nghiệp tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu (2) Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của doanh nghiệp (3) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (4) Chương 4: Kết quả nghiên cứu (5) Chương 5: Khuyến nghị và hàm ý chính sách 6 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nhân tố tác động đến ý định áp dụng mô hình kinh doanh tuần hoàn của doanh nghiệp Liu và Bai (2014) thực hiện một nghiên cứu với dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu với 157 công ty ở Trung Quốc để điều tra về nhận thức và ý định của các doanh nghiệp trong quá trình áp dụng mô hình KDTH. Cuộc phỏng vấn bán cấu trúc bao gồm 18 câu hỏi đóng và một câu hỏi mở.

Các câu hỏi được đo lường bằng thang đo Likert 05 mức độ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp có hiểu biết tương đối tốt về mô hình KDTH và có ý định mạnh mẽ để áp dụng mô hình KDTH. Tuy nhiên, còn tồn tại ba nhóm nhân tố chính cản trở ý định áp dụng này của doanh nghiệp, đó là nhóm nhân tố cấu trúc doanh nghiệp (bộ máy quan liêu kém hiệu quả, thủ tục không tạo thuận lợi động lực cho sự đổi mới, giới hạn quyền lực của người quản lý), nhân tố ngữ cảnh (quy định của chính phủ và thị trường), và nhân tố văn hoá (các đặc tính, thói quen, khẩu vị rủi ro của người quản lý của doanh nghiệp). Rizos và cộng sự (2015) thực hiện một nghiên cứu nhằm xác định các rào cản của việc áp dụng mô hình KDTH của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua phương pháp tổng quan tài liệu, thảo luận nhóm và nghiên cứu điển hình.

Nhóm tác giả chỉ ra một số rào cản có thể cản trở việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng mô hình KDTH như sau: nhân tố văn hoá (đặc biệt thể hiện qua cách lãnh đạo của chủ doanh nghiệp); nhân tố tài chính (nguồn vốn đầu tư ban đầu, chi phí vận hành); thiếu hỗ trợ của chính phủ và hành lang pháp lý hiệu quả; thiếu thông tin về lợi ích và cơ hội mà mô hình KDTH có khả năng đem lại; nhân công trình độ thấp; thiếu sự hỗ trợ từ mạng lưới cung và cầu đặc biệt đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ có ít ảnh hưởng đến lợi ích tài chính của các nhà cung cấp. Trong đó nhân tố quan trong nhất được cân nhắc đó là do doanh nghiệp không có nhân lực chất lượng cao đáp ứng được các yêu cầu của mô hình 7 KDTH, đồng thời doanh nghiệp cũng chưa nhận thức đầy đủ lợi ích, cơ hội của mô hình này. Đáng chú ý, bài nghiên cứu chỉ ra những thế mạnh mà các doanh nghiệp mới thành lập hoặc có quy mô nhỏ đối với việc vận dụng mô hình KDTH như việc chính phủ rất hoan nghênh các doanh nghiệp khởi nghiệp theo mô hình bền vững, và những doanh nghiệp này rất linh động trong việc đổi mới sáng tạo mà không bị ràng buộc với những hệ thống cũ. Trong nghiên cứu của Lewandowski (2016), tác giả tiến hành tổng quan các tài liệu và chỉ ra có nhiều lý do khác nhau để các doanh nghiệp không có ý định áp dụng mô hình KDTH, trong đó bài nghiên cứu đã chia thành hai nhóm nhân tố chính là nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.

Các nhân tố bên trong ở đây liên quan đến khả năng nội sinh có thể chuyển đổi theo mô hình KDTH. Những khả năng này thường bao gồm các nguồn lực vô hình như động lực, văn hóa, kiến thức và các thủ tục chuyển đổi. Các nguồn lực này phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển nguồn nhân lực và áp dụng các công cụ quản lý mới dựa trên nguyên tắc của mô hình KDTH của doanh nghiệp. Các nhân tố bên ngoài dựa trên khung phân tích PEST bao gồm chính trị (political), kinh tế (economics), xã hội (social) và công nghệ (technological), ví dụ như: công nghệ quản lý dữ liệu, công nghệ theo dõi vòng tuần hoàn của nguyên, vật liệu, quy định pháp luật giám sát và khuyến khích mô hình KDTH, thói quen của khách hàng, dư luận, v.

Nghiên cứu của Singh và cộng sự (2018) phát triển Lý thuyết về hành vi hoạch định để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tham gia vào mô hình KDTH. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ấn Độ. Tổng số 248 phản hồi hợp lệ đã được ghi nhận. Các câu hỏi được đo lường bằng thang đo Likert 05 mức độ với 01 là ―Hoàn toàn không đồng ý‖ và 05 là ―Rất đồng ý‖.

Mỗi nhân tố sẽ được đo lường bởi bốn đến năm biến quan sát. Những người trả lời cuộc khảo sát bao gồm chủ sở hữu doanh nghiệp, giám 8 đốc điều hành, quản lý và nhân viên cấp cao. Trong đó, số lượng quản lý và nhân viên cấp cao trả lời khảo sát là nhiều nhất. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của thái độ chủ/ quản lý doanh nghiệp, áp lực xã hội, nhận thức kiểm soát hành vi, cam kết môi trường, và khuyến khích kinh tế xanh có tác động tích cực đối với sự sẵn sàng của doanh nghiệp trong áp dụng mô hình KDTH.

Nghiên cứu của Sinha (2020) xem xét một cách có hệ thống các tài liệu và rút ra kết luận về các nhân tố quan trọng có khả năng tác động đến việc áp dụng mô hình KDTH. Nhân tố đầu tiên là kiến thức và cách vận dụng kiến thức của lãnh đạo doanh nghiệp về mô hình KDTH. Trong quá trình chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang mô hình KTTH, rất nhiều kiến thức (ví dụ: thông tin về sản phẩm, vật liệu, khách hàng, thị trường, cạnh tranh, môi trường và công nghệ tương lai) cần phải được cập nhật. Nhân tố thứ hai là sự hỗ trợ và khuyến khích của ban lãnh đạo doanh nghiệp.

Tác giả nhấn mạnh rằng cho dù kiến thức của chủ doanh nghiệp là khiêm tốn hay dồi dào thì điều tối quan trọng là phải phân bổ nguồn lực phù hợp, và có khả năng khuyến khích sự cộng tác cùng với thảo luận cởi mở giữa những người trong tổ chức. Các nhân tố khác bao gồm: Tư duy thích ứng của tổ chức nhấn mạnh tìm cách hiểu vòng đời và độ phức tạp của các hệ thống để quản lý chúng tốt hơn; Sự sáng tạo của doanh nghiệp; Khả năng thích ứng với công nghệ tiên tiến; Quy mô doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của Kirchherr và cộng sự (2018), nhóm tác giả đã nhận thấy rằng mặc dù Châu Âu được coi là cái nôi của nền KTTH tuy nhiên các ứng dụng của nền KDTH tại đây cho đến nay mới chỉ đạt được một số thành tựu nhỏ. Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát với 208 doanh nghiệp và 47 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia để chỉ ra bốn rào cản cũng là bốn nhân tố chính tác động đến việc vận dụng mô hình KDTH của doanh nghiệp đó là văn hoá, thị trường, pháp lý, và công nghệ.

Trong đó, nhân tố văn hoá được cấu thành bởi văn hoá doanh nghiệp, sự sẵn sàng hợp tác của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, văn hoá và nhận thức của người tiêu dùng, văn hoá doanh nghiệp trong mô hình kinh 9 doanh tuyến tính. Nhân tố pháp lý được cấu thành bởi quy trình quản lý mô hình KDTH, khung pháp lý, và sự thống nhất của các quốc gia về nguyên tắc của mô hình KDTH. Nhân tố thị trường được cấu thành bởi giá nguyên vật liệu sơ cấp rẻ, sự chuẩn hoá, chi phí đầu tư cao, nguồn đầu tư hạn chế. Nhân tố công nghệ bao gồm công nghệ sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao, thiết kế quy trình KDTH, số lượng dự án quy mô lớn hạn chế, thiếu thông tin.

Ranta và cộng sự (2018) áp dụng lý thuyết thể chế với phương pháp nghiên cứu định tính để khám phá các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình KDTH tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và Châu Âu. Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu điển hình với sáu doanh nghiệp và nhận thấy rằng trong ba trụ cột của thể chế thì hai trụ cột là quy chuẩn xã hội (normative social) và văn hoá nhận thức (cultural- cognitive) có tác động rất lớn đến quy định pháp lý (regulative legal). Nói cách khác, sự hợp lý của bất kỳ sáng kiến nào đều được quyết định thông qua sự kết hợp tổng thể của tất cả các trụ cột thể chế. Cụ thể, mặc dù các nghiên cứu trước đây tập trung vào quy định pháp luật để thúc đẩy mô hình KDTH, nhưng nếu chỉ dựa vào trụ cột này thì không đủ để đạt được thành công.

Trong nghiên cứu của De Jesus và Mendonça (2018), các tác giả đã chỉ ra đổi mới sinh thái là nhân tố quan trọng nhất đối với một mô hình KDTH với ba lý do chính. Đầu tiên, sự đổi mới có thể tạo ra các loại phương tiện mới, hệ thống năng lượng tái tạo hoặc cơ sở tương ứng để đáp ứng các nguyên tắc của mô hình KDTH. Thứ hai, đổi mới có thể giảm bớt gánh nặng và chi phí do các quy định môi trường mới gây ra. Thứ ba, đổi mới có thể hỗ trợ các doanh nhân tương tác trong một mạng lưới tuần hoàn làm trung tâm bằng cách đổi mới các đề xuất giá trị, chuỗi cung ứng, giao diện khách hàng và cấu trúc tài chính.

Do đó, việc nghiên cứu về sự đổi mới của các doanh nhân trong bối cảnh nền KTTH trở nên rõ ràng. Nghiên cứu này tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ đổi mới sinh thái của các doanh nghiệp và chia các nhân tố thành hai nhóm đó là nhân tố cứng và nhân tố mềm. Về nhân tố cứng, các nhân tố mà nhóm tác giả 10 đề cập đến là nhân tố kỹ thuật và nhân tố tài chính. Về nhân tố mềm, nhóm nhân tố được liệt kê là xã hội, thể chế và văn hoá.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự đổi mới trong các mô hình KDTH đặc biệt được thúc đẩy bởi các nhân tố ―mềm‖. Ngay cả khi các nhân tố cứng đã khả thi về mặt kỹ thuật, việc triển khai thực tế của chúng thường bị hạn chế nếu thiếu đi các nhân tố mềm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của nhân tố tài chính và phi tài chính đến mô hình kinh doanh tuần hoàn tại Việt Nam" khám phá những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình kinh doanh tuần hoàn, một xu hướng ngày càng phổ biến trong bối cảnh kinh tế hiện đại. Tác giả phân tích cách mà các yếu tố tài chính như nguồn vốn, chi phí và lợi nhuận, cùng với các yếu tố phi tài chính như văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội, có thể tác động đến hiệu quả và tính bền vững của mô hình này. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách tối ưu hóa các yếu tố này để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong kinh doanh.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về khởi nghiệp và phát triển mô hình kinh doanh, hãy tham khảo bài viết Tiểu luận i want to start a business i want to test my business want to grow my business 2end2hand. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những kiến thức bổ ích về cách khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Hãy khám phá để mở rộng hiểu biết của bạn về lĩnh vực này!