Chương 1 Giới thiệu đề tài. Chương 2 Trình bày khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây về căng thẳng tài chính và các tác động kinh tế vĩ mô của nó. Chương 3 đưa ra Phương pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình và dữ liệu cụ thể được áp dụng cho bài nghiên cứu này. Chương 4 trình bày Kết quả thực nghiệm với dữ liệu nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tháng 08 năm 2007 – tháng 06 năm 2016 thông qua mô hình SVAR.
Sau đó là phần giải thích kết quả chính của mô hình ước lượng được. Chương cuối cùng trình bày kết luận và các hàm ý chính sách 1. Đóng góp của đề tài Đây là một đề tài không quá mới và đã được nghiên cứu trước đó bởi nhiều nhà kinh tế học khác nhau trên thế giới. Song những khía cạnh mới được bài viết này đề cập đến cũng đóng vai trò không thể phủ nhận, bao gồm: Về mặt lí thuyết, bài nghiên cứu này sẽ cho một cái nhìn tổng quan về việc sử dụng hai mô hình VAR và các biến thể của VAR đối với quá trình đo lường ảnh hưởng của chính sách tiền tệ và tình trạng tài chính đến các yếu tố kinh tế vĩ mô.
123doc 7 Về mặt thực nghiệm, đóng góp của bài nghiên cứu có thể xem xét trên 3 khía cạnh sau: Thứ nhất, bài viết này xem xét các yếu tố khác như rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng và chênh lệch nợ công như các chỉ số bổ sung vào chỉ số căng thẳng tài chính; Thứ hai, với việc đo lường chỉ số căng thẳng tài chính FSI dựa trên nghiên cứu của IMF cho nền kinh tế mới nổi ứng dụng cho thị trường Việt Nam, đo lường căng thẳng tài chính không chỉ cung cấp một chuẩn định lượng để đánh giá cường độ căng thẳng, mà còn cung cấp một ý tưởng về sự đóng góp tương đối của mỗi chỉ số tài chính trong việc đo lường tổng thể sự căng thẳng và do đó giúp xây dựng các phản ứng chính sách thích hợp; Thứ ba, với kết quả ước lượng được, bài nghiên cứu này cho thấy ảnh hưởng của tình trạng căng thẳng tài chính và đến các yếu tố kinh tế vĩ mô – cụ thể là tăng trưởng sản lượng kinh tế và tỷ lệ lạm phát, đồng thời xem xét vai trò truyền dẫn của chính sách tiền tệ trong cơ chế tác động này. 123doc 8 CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ CĂNG THẲNG TÀI CHÍNH VÀ CÁC TÁC ĐỘNG KINH TẾ VĨ MÔ CỦA CĂNG THẲNG TÀI CHÍNH 2. Khung lý thuyết về căng thẳng tài chính 2.
Chỉ số căng thẳng tài chính (FSI) theo cách tiếp cận của Quỹ tiền tệ quốc tế Theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Chỉ số căng thẳng tài chính (FSIs) là một chỉ tiêu cung cấp cái nhìn sâu sắc về sức khoẻ tài chính và tính lành mạnh của các tổ chức tài chính của một quốc gia cũng như các khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình, hỗ trợ phân tích ổn định kinh tế và tài chính. Một giai đoạn được xem là căng thẳng tài chính được định nghĩa như là một khoảng thời gian khi mà hệ thống tài chính đang ở trong tình trạng căng thẳng và khả năng đóng vai trò trung gian của nó bị suy giảm. Căng thẳng tài chính có xu hướng gắn với ít nhất bốn đặc điểm cơ bản: sự biến động lớn về giá tài sản, sự gia tăng đột ngột rủi ro và/hoặc sự không chắc chắn, suy giảm nghiêm trọng về khả năng thanh khoản và mối quan ngại về sức khoẻ của hệ thống ngân hàng. Các sự kiện ảnh hưởng đến điều kiện của thị trường tài chính có thể thay đổi và có nguồn gốc từ bên ngoài hoặc trong nước, chẳng hạn như sự đánh giá lại rủi ro của nhà đầu tư, thay đổi sở thích, tình hình tài chính không theo kỳ vọng hoặc doanh nghiệp thua lỗ, hoặc các chính sách nhất định.
Nói chung, các sự kiện như thế tạo ra cung hoặc cầu của các quỹ trong thị trường tài chính - và do đó giá tài sản có thể làm ảnh hưởng đến nhiều phân đoạn của hệ thống tài chính. Trong việc xây dựng chỉ số căng thẳng tài chính, các nghiên cứu không đồng nhất về các sự kiện gây ra căng thẳng tài chính. Mục đích chính là để có được một biện pháp toàn diện nhằm nắm bắt được một cách tối đa hệ thống tài chính của một quốc gia. Để theo đuổi mục tiêu này, cần có một chỉ số đánh giá được phản ứng của thị trường đối với thị trường chứng khoán và thị trường hối đoái, cũng như lĩnh vực ngân hàng.
Một sàng lọc quan trọng đối với EM-FSI (chỉ 123doc 9 số căng thẳng tài chính đối với thị trường mới nổi) liên quan đến chỉ số của Roberto Cardarelli, Selim Elekdag, và Subir Lall (2009) là việc đưa ra một thước đo áp lực cho thị trường hối đoái, vốn được xem là một nguồn gốc căng thẳng và phổ biến ở các nền kinh tế mới nổi hơn so với các nền kinh tế phát triển. Chỉ số căng thẳng tài chính được xây dựng cho các nước phát triển Illing và Liu (2006) đã phát triển chỉ số căng thẳng tài chính cho các nước phát triển. Sự căng thẳng về tài chính được xác định là khi các tác nhân kinh tế bị tác động bởi sự không chắc chắn và thay đổi kỳ vọng về tổn thất trên thị trường tài chính và các định chế trung gian. Sự căng thẳng về tài chính mang tính liên tục, được đo bằng một chỉ số được gọi là Financial Stress Index (FSI).
Nếu căng thẳng tài chính có tính hệ thống, hành vi kinh tế có thể được thay đổi một cách đầy đủ để có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế thực. Do đó, căng thẳng tài chính là một biến số liên tục với một dải các giá trị, trong đó các giá trị cực đoan được gọi là khủng hoảng. Sự căng thẳng tăng lên cùng với sự mất mát tài chính dự kiến, với rủi ro (sự phân bố tổn thất có thể xảy ra), hoặc với sự không chắc chắn (sự tự tin thấp hơn về hình dạng của phân phối tổn thất có thể xảy ra). Nghiên cứu của các tác giả này đã đưa ra một ước tính chính xác về căng thẳng tài chính kinh tế vĩ mô dưới hình thức một chỉ số.
Một loạt các biện pháp xác định tổn thất, rủi ro và sự không chắc chắn từ các ngân hàng, thị trường ngoại hối, nợ và thị trường vốn cổ phần (bốn kênh tín dụng quan trọng nhất). Sự căng thẳng trong khu vực hộ gia đình và khu vực kinh doanh phi tài chính được thể hiện rõ ràng trong hành vi của các đại diện của bốn thị trường này. Sự căng thẳng tài chính thể hiện những điểm yếu trong điều kiện tài chính và/hoặc trong cơ cấu hệ thống tài chính. Một cú sốc sẽ có nhiều khả năng gây căng thẳng (cực đoan, khủng hoảng) khi điều kiện tài chính yếu; ví dụ như khi dòng tiền giảm đột biến, bảng cân đối sử dụng đòn bẩy quá cao, hoặc người cho vay trở nên e ngại rủi ro hơn.
Các cú sốc cũng có thể lan truyền qua sự yếu kém trong cấu trúc 123doc 10 của hệ thống tài chính, như khi có sự thất bại trong điều phối thị trường, hoặc các hệ thống trở nên quá tải, hoặc luồng thông tin là bất đối xứng. Kích cỡ của cú sốc và sự tương tác của các đặc điểm của hệ thống tài chính sẽ quyết định mức độ căng thẳng. Khung lý thuyết về chính sách tiền tệ 2. Khái quát Chính sách tiền tệ được thể hiện dưới nhiều khía cạnh, trong đó chính sách tiền tệ được xem là các hành động của ngân hàng trung ương nhằm thay đổi cung tiền hoặc lãi suất chính sách để hướng đến mục tiêu ổn định lạm phát, tăng trưởng kinh tế, toàn dụng lao động và ổn định tỷ giá hối đoái.
Ngân hàng Trung ương Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền trong in và phát hành tiền, ngân hàng trung ương còn đóng vai trò là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng của ngân hàng thương mại, người cho vay cuối cùng, cơ quan quản lý hệ thống thanh toán, cơ quan giám sát hệ thống ngân hàng và là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ. Mục tiêu của Chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương thực thi chính sách tiền tệ để hướng đến ổn định kinh tế, tạo việc làm, ổn định hệ thống tài chính, nhưng ổn định giá cả vẫn luôn là mục tiêu quan trọng nhất (Cecchetti và Krause, 2002, Geraats, 2002, Issing, 2004, Spyromitros và Tuysuz, 2012, Van der Cruijsen and Demertzis, 2007, Jean Louis và Balli, 2013). Công cụ của Chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương sử dụng lãi suất chính sách để thực thi chính sách tiền tệ như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng. Ngân hàng trung ương 123doc 11 còn có thể mua hoặc bán chứng khoán ngắn hạn trên thị trường mở để tác động trực tiếp đến cung tiền và cầu tiền từ đó tác động đến lãi suất thị trường và các yếu tố kinh tế khác.
Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương còn có thể sử dụng dự trữ bắt buộc để tác động đến cung tiền vì dự trữ bắt buộc có tác động trực tiếp đến hệ số tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại. Truyền dẫn Chính sách tiền tệ Truyền dẫn chính sách tiền tệ là quá trình truyền dẫn những thay đổi trong lãi suất chính sách hoặc cung tiền đến các thay đổi khác của các yếu tố kinh tế như lãi suất thị trường, giá tài sản, tỷ giá hối đoái, dòng tiền, cung tín dụng ngân hàng, tiêu dùng tư nhân….để hướng đến mục tiêu cuối cùng là mức giá, tăng trưởng kinh tế và lao động của nền kinh tế (Mankiw and Taylor, 2011). Tác động của những thay đổi trong cung tiền hay lãi suất chính sách của ngân hàng trung ương lên các biến số vĩ mô khác được nghiên cứu trong mô hình IS – LM, đây được xem là mô hình nền tảng mô tả quá trình truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua nhiều kênh khác nhau. Các kênh truyền dẫn của Chính sách tiền tệ: - Kênh lãi suất Ngân hàng trung ương có thể thay đổi cung tiền và hoặc lãi suất chính sách để tác động đến lãi suất thực, đầu tư, tổng cầu và sản lượng.
Kênh lãi suất được được xem là kênh truyền dẫn chính của chính sách tiền tệ và được khẳng định ở nhiều nghiên cứu tại nhiều khu vực và quốc gia khác nhau (Friedman, 1956, Hannan and Liang, 1993, Taylor, 1995, Cecchetti, 1995).