mở đầu cho thời kì đổi mới của dân tộc ta thì pháp luật về SHTT mới bắt đầu được quan tâm. Cụ thể là sự ra đời của một số văn bản pháp luật như Nghị định 855/HĐBT ngày 13/5/1988 ban hành Điều lệ về kiểu 20 Điều 10bis, Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, NXb Thống kê, Hà Nội, 2000 21 Khoản 1, Điều 39, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Thống Kê, 2000 14 dáng công nghiệp, Nghị định 200/HĐBT ngày 28/12/1988 ban hành Điều lệ về giải pháp hữu ích.22 Tiếp sau đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cũng như việc hội nhập toàn cầu, pháp luật thế giới, đặc biệt là các hiệp định, các điều ước quốc tế có tầm ảnh hưởng lớn đối với sự hình thành, phát triển của pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD nói riêng. Bắt đầu từ việc pháp điển hóa, cho ra đời Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ban hành ngày 28/01/1989, thuật ngữ “quyền sở hữu công nghiệp” được sử dụng về mặt pháp lý, tuy nhiên trong văn bản này vẫn chưa có quy định liên quan đến bí mật kinh doanh. Tiếp đến, Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, thuật ngữ “quyền sở hữu trí tuệ” đã được hiểu bao gồm quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp.
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được đàm phán, yêu cầu Việt Nam phải ban hành luật về bảo vệ BMKD chậm nhất là 18 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực. Do vậy mà đến 3/10/2000, Chính phủ đã ban hành nghị định số 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp.23Từ nghị định này thì BMKD lần đầu tiên được công nhận bảo hộ một cách rõ ràng, trực tiếp trong pháp luật Việt Nam. Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 1995, cùng với một số thay đổi liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, đặt ra những điều khoản “bản lề” cho những quy định cụ thể chi tiết khác. 22 Trương Thị Thanh Tuyết, Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, 2011, tr 27, 28 23 Lê Nết, Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học Quốc gia thành phồ Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr.
153 15 Ngày 29/11/2005, Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Đây là đạo luật đầu tiên được ban hành để điều chỉnh riêng về các quan hệ xã hội trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Các quy định được đưa ra để điều chỉnh quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD trong đạo luật này tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh. Sau khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành, Chính phủ lần lượt cho ra đời các Nghị định hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ; Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định các hành vi vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, hình thức mức phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt và biện pháp khắc phục hiệu quả.
Ngoài ra, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP. Ngày 19/6/2009, tại kì họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Việc sửa đổi, bổ sung luật sở hữu trí tuệ đã góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này, đặc biệt tiến tới hoàn thiện hơn nữa pháp luật về SHTT nói chung và pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD nói riêng trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng.3 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Theo báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Công thương ký gửi Thường vụ Quốc hội liên quan đến Nghị quyết số 1052/NQ-UBTVQH13 về một số định hướng, nhiệm vụ và giải pháp thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế 16 quốc tế, tính đến nay Việt Nam đã ký kết và thực thi 11 FTA, kết thúc đàm phán 01 FTA và đang đàm phán 4 FTA khác.24 Trong 11 FTA đã kí kết, có tới 06 FTA Việt Nam ký kết dưới tư cách là thành viên ASEAN, bao gồm: AFTA, 05 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và Niu-di-lân; 05 FTA được ký dưới tư cách là thành viên độc lập, bao gồm: FTA với Chi Lê, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Á-Âu và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. FTA đã kết thúc đàm phán là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu.
Bốn FTA đang được đàm phán bao gồm: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA ASEAN – Hồng Kông, FTA với Israel và FTA với khối thương mại tự do Châu Âu (EFTA). Trong tất cả các FTA đã được kí kết, đàm phán và đang tiến hành đàm phán thì hai hiệp định được xem là tiêu biểu nhất điều chỉnh các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ bí mật kinh doanh nói riêng bao gồm: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vừa được kí kết ngày 09/3/2018 tại thủ đô Santiago (Chi Lê) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EU- FTA) đã kết thúc đàm phán.1 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) 1.1 Khái quát về Hiệp định CPTPP CPTPP là một hiệp định mới, thay thế cho Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do sự rút lui của Mỹ khi chính quyền Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền. CPTPP được xem là một Hiệp định thương 24 Tư Hoàng, Việt Nam đã và đang tham gia 16 FTA, Thời báo Sài Gòn, https://vietnambiz.vn/viet-nam-da- va-dang-tham-gia-16-fta-10697.html, 21/12/2016 25 Tổng hợp từ trang web http://www.vn/wto/wto-vietnam 17 mại tự do thế hệ mới có kế thừa những nội dung trong Hiệp định TPP. Đây là kết quả đàm phán của 11 quốc gia, bao gồm: Bờ-ru-nây, Chi Lê, Niu-di-lân, Sing-ga-po, Úc, Pê Ru, Việt Nam, Ma-lay-si-a, Mê-xi-cô, Nhật Bản và Ca-na- da.26 Một số nước như: Cô-lôm-bi-a, Phi-lip-pin, Thái Lan, In-dô-nê-si-a, Hàn Quốc, Đài Loan đang ngỏ ý muốn tham gia trong tương lai.
Về nội dung của hiệp định, với phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như: Thương mại, đầu tư, môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ. CPTPP hứa hẹn sẽ củng cố mối liên kết cùng có lợi giữa các nền kinh tế thành viên cũng như thúc đẩy thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời cũng tạo nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp, người tiêu dùng, hộ gia đình, nông dân và người lao động. Một trong những vấn đề đáng quan tâm đó là những quy định của CPTPP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Sự điều chỉnh cụ thể của Hiệp định về lĩnh vực này cũng là một trong những lí do khiến nó được xem là một trong những FTA thế hệ mới tiêu biểu.2 Quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD trong Hiệp định CPTPP Sở hữu trí tuệ được quy định tại Chương 18 của Hiệp định, bao gồm 11 mục, trong đó tại Mục F quy định về Bằng sáng chế và kết quả thử nghiệm bí mật hoặc các thông tin bí mật khác (Patents and Undisclosed Test or Other Data).
Theo Hiệp định CPTPP, Sở hữu trí tuệ bao gồm các đối tượng sở hữu trí tuệ từ mục 1 đến mục 7 phần II của Hiệp định TRIPs27 (bao gồm: bản quyền và các quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hóa; chỉ dẫn địa lý; kiểu dáng công nghiệp; patent; thiết kế bố trí mạch tích hợp; bảo hộ thông tin bí mật). 26 Nguyễn Quỳnh, VOV.vn, https://vov.vn/kinh-te/hiep-dinh-cptpp-mo-ra-nhieu-co-hoi-moi-cho-viet-nam- 736263.1, Hiệp định CPTPP, “intellectual property refers to all categories of intellectual property that are the subject of Sections 1 through 7 of Part II of the TRIPS Agreement” 18 Về mục tiêu, Hiệp định CPTPP khẳng định, việc bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đóng góp vào việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, vào việc tạo thuận lợi qua lại của các nhà sản xuất và người sử dụng kiến thức công nghệ, có lợi cho phúc lợi kinh tế xã hội, và tạo ra cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ28. Về nguyên tắc, hiệp định CPTPP nêu ra những nguyên tắc như: Các bên có thể xây dựng hoặc sửa đổi luật pháp của mình nhằm thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe và dinh dưỡng cộng đồng, thúc đẩy các lợi ích công cộng trong các lĩnh vực có vai trò tối quan trọng đối với phát triển công nghệ và phát triển kinh tế-xã hội của nước mình, với điều kiện các biện pháp đó phù hợp với các quy định của Chương 18 về SHTT; Các biện pháp thích hợp cần thiết, miễn là chúng phù hợp với các quy định của Chương này, nhằm ngăn chặn việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu hay việc sử dụng các biện pháp không cần thiết nhằm hạn chế thương mại hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến chuyển giao công nghệ quốc tế29. Về thuật ngữ, Hiệp định CPTPP dùng thuật ngữ Undisclosed Test or Other Data (kết quả thử nghiệm bí mật hoặc dữ liệu bí mật khác) để chỉ các thông tin bí mật cần được bảo mật đối với sản phẩm hóa nông, sản phẩm dược hay sinh phẩm.
Về các quy định, Hiệp định CPTPP điều chỉnh việc xác lập và bảo vệ, thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD thông qua các điều khoản. Cụ thể như sau: 1.1 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong hiệp định CPTPP 28 Điều 18.2, Hiệp định CPTPP, 2018 29 Điều 18.3, Hiệp định CPTPP, 2018 19 Hiệp định CPTPP quy định về việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD dựa trên những tiêu chuẩn tối thiểu của hiệp định TRIPs.