Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VE SÁNG CHE VA ĐĂNG KY BAO HỘ SANG CHE Ở NƯỚC NGOÀI Lịch sử thé giới không thé phủ nhận vai trò quan trọng của sáng chế đối với đời sống nhân loại. Sáng chế ra đời từ những nhu cau bức thiết của con người, nơi có những khối óc và bàn tay không ngừng tìm kiếm sáng tạo cái mới từ những gì sẵn có, nơi mà thiên nhiên kém ưu đãi; khi mà mong ước giải phóng sức lao động của con người, mong ước chữa bệnh, và bất kỳ mong ước nào khác không ngừng thôi thúc. Sự xuất hiện của sáng chế, về cơ bản, không phải vì mục đích để được bảo hộ mà dé phục vụ những nhu cầu bức thiết đó của con người. Khi đời sống con người nâng cao, nhu cầu của con người tăng lên, thúc đây số lượng sáng chế tăng theo và khoa học kỹ thuật theo đó cũng ngày càng phát triển, quay trở lại phục vụ chính cuộc sông của con người.
KHÁI NIỆM SANG CHE VÀ BẢO HỘ SÁNG CHE 1. Khái niệm sáng chế, bằng sáng chế “Sáng chế” từ tương ứng tiếng Anh là “Invention”, “bằng sáng chế” tương ứng là “Patent”. Theo giải thích của một số từ điển trực tuyến thì: Từ điển Cambridge trực tuyển, (tiếng Anh-Anh) giải thích: “Sáng chế” là điều chưa bao giờ được tạo ra hoặc quy trình sáng tạo ra điều mà chưa bao giờ được tạo ra trước đó; “Băng sáng chế” là quyền pháp lý chính thức trong việc tạo ra hoặc bán một sáng chế trong một số năm nhất định. Từ điển Oxford trực tuyến diễn giải: “Sáng chế” là hoạt động sáng tạo ra cái gì đó, thường là một quy trình hay một thiết bị.
“Băng sáng chế” là thâm quyền hoặc cấp phép của chính phủ mang lại quyền hoặc danh hiệu trong một giai đoạn ' Nguyên văn tiếng Anh: “Invention: Something that has never been made before, or the process of creating something that has never been made before”, “Patent: The official legal right to make or sell an invention for a particular number of years”, nguôn: http://dictionary. nhất định, đặc biệt là quyền ngăn người khác từ việc làm, sử dụng hoặc bán một sáng chế. Công ước Paris 1883 về Bảo hộ SHCN (từ đây gọi tắt là Công ước Paris) không định nghĩa chính xác sáng chế là gi, tuy nhiên, trong nội dung của Công ước Paris cũng đã hàm nghĩa điều đó: Việc cấp bằng sáng chế sẽ không bị từ chối và một bằng độc quyền sáng chế sẽ không bi vô hiệu vì ly do việc bán sản phâm được cấp bằng sáng chế hay một sản phâm thu được bằng phương tiện của một quy trình được cấp băng sáng chế bị hạn chế hoặc thiếu sót do pháp luật trong nước.” Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO) dua ra khai niệm: - “Sang chế” nghĩa là một giải pháp cho một van dé cụ thé trong lĩnh vực công nghệ. Sáng chế có thé liên quan tới một sản phẩm hay một quy trình.Việc bảo hộ bằng độc quyền sáng chế bị giới hạn về mặt thời gian (thường là 20 năm)”.
- Băng độc quyền sáng chế (patent) là một văn bằng do quốc gia cấp dựa trên cơ sở đơn yêu cầu bảo hộ, trong đó mô tả một sáng chế và thiết lập một điều kiện pháp lý mà theo đó sáng chế đã được cấp bằng độc quyền chỉ có thể được khai thác một cách bình thường (sản xuất, sử dụng, bán, nhập khẩu) với sự cho phép của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế.” Khái niệm sáng chế, bằng sáng chế cũng được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới: Luật Sáng chế Hoa Kỳ không đưa ra định nghĩa về sáng chế mà chỉ giải thích: Bất kỳ người nào sáng tạo hoặc khám phá ra quy trình, công nghệ, sản xuất ' Nguyên văn tiếng Anh: “Invention: The action of inventing something, typically a process or device”, “Patent: A government authority or licence conferring a right or title for a set period, especially the sole right to exclude others from making, using, or selling an invention.”, nguồn: http://www.com/ ? Nguyên văn tiếng Anh: “The grant of a patent shall not be refused and a patent shall not be invalidated on the ground that the sale of the patented product or of a product obtained by means of a patented process is subject to restrictions or limitations resulting from the domestic law”, Paris Convention for the Protection of Industrial Property, Article 4. 3 NOIP (sách dịch, 2008), Cam nang về sở hữu trí tuệ: chính sách, pháp luật và áp dung, tr.L7; hoặc cấu thành vật chất mới và hữu ích, hoặc bất cứ cải tiễn mới và hữu ích của chúng, có thể được cấp bằng sáng chế, nếu nó thoả mãn các điều kiện và yêu cầu về việc cấp băng sáng chế.' Luật SHCN Mêhicô quy định: Bat kỳ sáng tạo nào của con người cho phép vật chất hoặc năng lượng tôn tại trong tự nhiên chuyên hoá dé con người sử dụng thỏa mãn nhu cầu đặc biệt của mình sẽ được coi là sáng chế.” Theo Luật Sáng chế Nhật Bản: “Sáng chế” trong Luật này có nghĩa là sự sáng tạo vượt bậc của những ý tưởng hữu ích sử dụng các quy luật của tự nhiên. Sáng chế được cấp bằng trong Luật này có nghĩa là một sáng chế mà băng sáng chế đã được cấp.” Luật SHTT Việt Nam cũng đưa ra khái niệm: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dang sản pham hoặc quy trình nhăm giải quyết một van dé xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”; “Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng ché.”; “Băng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm ké từ ngày nộp đơn”. Nhu vậy, về cơ bản, sdng chế được hiểu là kết quả của quá trình sáng tạo của con người (phải mang đặc tính kỹ thuật, theo nghĩa rộng nhất, bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp), tạo ra sản phâm, hoặc quy trình mới từ những sự vật, hiện tượng đã có trong tự nhiên, nhằm phục vụ đời sống đại đa số con người.
Băng sáng chế là tài liệu do cơ quan có thâm quyền (có thé là quốc gia, khu vực) cấp, ghi nhận vai trò sở hữu sáng chế của người đăng ký, nhờ đó họ có quyên khai thác, cho phép hoặc ngăn ' Nguyên văn tiếng Anh: “Whoever invents or discovers any new and useful process, machine, manufacture, or composition of matter, or any new and useful improvement thereof, may obtain a patent therefor, subject to the conditions and requirements of this title, inventions patentable”, nguồn: 35 U. 101; ? Nguyên văn tiếng Anh: “Any human creation that allows matter or energy existing in nature to be transformed for use by man for the satisfaction of his specific needs shall be considered an invention’, nguồn: Mexico Industrial Property Law (1991, amended on 2010), Article 15 Nguyên văn tiếng Anh: Article 2.1: “Invention” in this Act means the highly advanced creation of technical ideas utilizing the laws of nature” Article 2.2: “Patented invention” in this Act means an invention for which a patent has been granted.”, nguồn: Japan Patent Act (1959, amended on 2011). * Quốc hội, Luật SHTT (Việt Nam), Điều 4.2 cắm người khác khai thác sáng chế của mình. Thời hạn có hiệu lực của bằng sáng chế hiện nay thường là hai mươi năm tính từ ngày nộp đơn với điều kiện là phí duy trì hiệu lực phải được nộp đúng thời hạn và không có đơn yêu cầu chấm dứt hoặc huỷ bỏ hiệu lực được thực hiện thành công trong thời hạn này.
Hết thời hạn bảo hộ, sáng chế sẽ trở thành tài sản của cộng đồng, có nghĩa là bất kỳ ai cũng có thể sử dụng mà không can xin phép. Bảo hộ sáng chế Sáng chế là một trong các đối tượng truyền thống của quyền SHCN. Công ước Paris quy định rõ đối tượng của quyền SHCN bao gồm: “patent, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn góc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh”.' Bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế (hay nói một cách ngắn gọn là bảo hộ sáng chế) được hiểu một cách khái quát là việc nhà nước thông các quy định của pháp luật xác lập, duy trì quyền cho các tổ chức và cá nhân đối với sáng chế và bảo vệ quyền đó chống lại sự xâm phạm từ các chủ thé khác. Tiếp cận dưới góc độ quyền của chủ sở hữu, bảo hộ sáng chế là việc cơ quan có thâm quyền trao cho chủ sở hữu sáng chế được độc quyền chế tao, sử dung, mua bán.
và ngăn cản hay cho phép tô chức, cá nhân khác chế tạo sử dụng, mua bán. sáng chế đã được cấp băng độc quyên. Xác lập quyền doi với sáng chế Đối với quyên tác giả, việc đăng ký bảo hộ không phải là yêu cầu bắt buộc, bởi lẽ theo “Nguyên tắc bảo hộ tự động” quyền tác giả phát sinh ngay từ khi tác phâm định hình dưới dạng vật chất nhất định không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào như đăng ky, cấp giấy chứng nhận, nộp lưu chiéu,. Đối với quyền SHCN, việc đăng ký bảo hộ là yêu cầu bắt buộc (trừ một số trường hợp ngoại lệ).
Cụ thể, để được pháp luật bảo hộ thì chủ sở hữu sáng chế (tổ chức, cá nhân) bắt buộc thực hiện ' Nguyên văn tiếng Anh: “. patents, utility models, industrial designs, trademarks, service marks, trade names, indications of source or appellations of origin, and the repression of unfair competition”, nguồn: Paris Convention for the Protection of Industrial Property, Article 1. những thủ tục pháp ly dé đăng ky bảo hộ sáng chế tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyền SHCN đối với sáng chế của các chủ thể chỉ phát sinh khi được cấp van bang bảo hộ. Sở di có sự khác biệt như vậy là do quyền tác giả xuất phát từ tinh duy nhất hay tính nguyên gốc của tác phẩm văn học, nghệ thuật, các tác pham văn học, nghệ thuật được cảm thụ thông qua sự thể hiện tác phẩm.
Hơn nữa các tác pham văn học nghệ thuật thường gắn với cảm xúc của của tác giả và thường không thé lặp lại một cách y hệt ở người khác. Bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ sự sáng tao của cá nhân, tô chức về hình thức thê hiện ý tưởng mà không cần quan tâm đến nội dung của tác phẩm văn học nghệ thuật đó. Khác với quyền tác giả, bảo hộ quyền SHCN (bao gồm cả sáng chế) là bảo hộ nội dung của ý tưởng. Theo đó các đối tượng SHCN muốn được cấp văn bằng bảo hộ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định.