Chương 1: Giới thiệu tổng quát về vấn đề nghiên cứu, từ đó xác định mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về hành vi sức khỏe, hành vi hút thuốc lá, hành vi sử dụng thức uống có cồn nhằm xác định khung nghiên cứu, mô hình, phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Trình bày phương pháp và mô hình nghiên cứu của luận văn. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu từ kỹ thuật thống kê mô tả và hồi quy.
Chương 5: Từ kết quả nghiên cứu chương 4, chương 5 nêu kết luận, kiến nghị chính sách và hạn chế, hướng mở rộng của đề tài; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, tác giả sẽ trình bày lý thuyết nhận thức-hành vi và những nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến hành vi hút thuốc và uống rượu, bia. Từ đó, tác giả đề xuất khung nghiên cứu của đề tài.1 Thuyết nhận thức-hành vi Theo Jame M. (2000), khái niệm “nhận thức-hành vi” lần đầu tiên được đề cập trong năm 1970 bởi các nhà tâm lý học làm việc tại Hoa Kỳ và Canada. Sau đó, Mahoney nghiên cứu “Nhận thức và thay đổi hành vi”, Goldfried và Merbaum nghiên cứu “Thay đổi hành vi từ khả năng tự chủ”, Meichenbaum nghiên cứu “Thay đổi nhận thức-hành vi: một cách tiếp cận tích hợp” đã phát triển thành lý thuyết “nhận thức-hành vi” hiện đại.
Thuyết nhận thức-hành vi cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định. Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp. Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi. Mô hình lý thuyết nhận thức-hành vi Trong lý thuyết nhận thức-hành vi hiện đại, quan hệ giữa quá trình nhận thức và thay đổi hành vi của mỗi cá nhân đã được Jame M.
Các phản ứng phụ thuộc vào các sự kiện kích thích trước đó. Hình thức “phản xạ có điều kiện” cổ điển được phát hiện bởi Pavlov phù hợp với mô hình này. Trong các hình thức học tập được phát hiện bởi Skinner, phản ứng bị ảnh hưởng bởi các điều xảy ra sau đó hơn các điều xảy ra trước đó. Nếu hậu quả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 (Consequences) là xấu, có một khả năng rất cao rằng hành động đó sẽ không được lặp đi lặp lại, tuy nhiên nếu hậu quả là tốt, các hành động mà dẫn đến nó có khả năng diễn ra cao hơn.
Hành vi dưới sự kiểm soát bởi hậu quả của nó. Một kích thích gây ra phản ứng còn tùy thuộc vào các nhân tố nội tại của cá nhân đó (Organism) như sự quan tâm, nhận thức và ý nghĩa các kích thích bên trong cá nhân đó. Quá trình tác động của của môi trường để đưa đến kết quả của một cá nhân được tượng trưng bởi mô hình sau: Hình 2. Mô hình S-O-R-C Một sự kiện kích thích của môi Nhân tố nội tại của cá nhân trường (Stimulus) (Organism) Hậu quả Phản ứng của cá nhân (Consequences) (Response) Nguồn: Jame M.
(2000), Liverpool University, Cognitive-Behavioural Approaches Mô hình S-O-R-C là nền tảng cơ bản của xã hội học và lý thuyết nhận thức - hành vi. Các nhận thức trung gian được đại diện bởi nhân tố nội tại của cá nhân (Organism) là cách tiếp cận hoàn toàn mới trong lý thuyết hành vi. Quan hệ giữa suy nghĩ, cảm xúc và hành vi Nguyên tắc thứ hai khẳng định các hoạt động của một sinh vật, hoặc cá nhân có ba phương thức. Đó là hành vi, cảm xúc, và nhận thức.
Hành vi là những chuyển động của cơ thể, nhưng cũng bao gồm các hành vi bằng lời nói. Những hiệu ứng của từ ngữ đôi khi được dùng để biểu thị cảm xúc, chúng cũng được áp dụng cho các thuộc tính nhận thức của cảm xúc. Hành vi, cảm xúc và nhận thức liên kết chặt chẽ với nhau trong một cá nhân theo sơ đồ tam giác sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sơ đồ quan hệ giữa nhận thức, cảm xúc và hành vi Nhận thức Cảm xúc Hành vi Nguồn: Jame M.
(2000), Liverpool University, Cognitive-Behavioural Approaches Theo sơ đồ trên, mỗi nhân tố như hành vi, nhận thức, cảm xúc đều chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố kia. Do đó, khi đánh giá một nhân tố không thể bỏ qua hai nhân tố còn lại. Tự điều chỉnh Trong những thập kỷ qua, tâm lý học nhận thức đã có những bước tiến đáng kể thông qua việc sử dụng các mô hình chức năng của bộ não dựa trên khái niệm về xử lý thông tin. Bằng những nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học đã phân biệt chức năng tự động xử lý thông tin và kiểm soát thông tin.
Một tỉ lệ rất lớn những việc làm của con người trên cơ sở xử lý thông tin tự động. Thức dậy, mặc quần áo, lái xe và nhiều hoạt động tương tự như các chương trình tuần tự mà không cần suy nghĩ có ý thức thực hiện. Hoạt động kiểm soát thông tin là loại hình hoạt động nhận thức khi chúng ta phải đối mặt với tình huống mới lạ, thực hiện các quyết định hoặc giải quyết vấn đề. Nó cũng phối hợp xử lý tự động các thông tin được tiếp nhận.
Nếu một chương trình thường xuyên bị gián đoạn, kiểm soát có thể làm cho chuyển sang một thói quen khác. Kiểm soát cũng phục vụ một chức năng tự điều tiết. Trong giai đoạn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 phôi thai, nhiều hành vi của con người được quy định từ bên ngoài, bởi cha mẹ và những người khác. Học tập và tác động của xã hội không chỉ sửa đổi hành vi mà còn giúp con người có được các kỹ năng tự điều chỉnh.
Nhân tố nội tại của các cá nhân Một trong những nền tảng của lý thuyết nhận thức hành vi là quan hệ chặt chẽ giữa quá trình nhận thức và hành vi. Các cá nhân trong cùng một hoàn cảnh có thể có những hành vi khác nhau tùy theo quá trình nhận thức. Điều này có thể ảnh hưởng bởi giới tính, văn hóa, địa lý sinh sống, chủng tộc… Tương tác giữa các cá nhân Trong cách tiếp cận nhận thức-hành vi của cá nhân, các yếu tố nội tâm linh và tình huống, các yếu tố môi trường được xem là quan trọng. Tuy nhiên, người ta cho rằng những lời giải thích tốt nhất của hành vi con người sẽ đến từ một phân tích về sự tương tác giữa hai người.
Trong thực tế, các nghiên cứu đã nhiều lần chỉ ra rằng dự đoán tốt nhất của hành vi không phải từ thông tin liên quan đến các yếu tố nội tại của cá nhân mà là những những hiệu ứng tương tác của hai người. Do đó, khi nghiên cứu hành vi của con người phải đặt họ trong mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân trong tổ chức. Phương pháp trị liệu nhận thức-hành vi Kế thừa từ lý thuyết nhận thức-hành vi, nhà tâm lý trị liệu người Mỹ-Albert Ellis cùng các cộng sự của ông đã phát triển thành phương pháp trị liệu nhận thức-hành vi. Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực.
Một số lĩnh vực ứng dụng phương pháp này như điều trị các chứng trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, sợ khoảng rộng, sợ đặc hiệu, rối loạn stress sau sang chấn, rối loạn ăn uống, nghiện chất như ma túy, thuốc lá, thức uống có cồn…, chứng nghi bệnh, rối loạn chức năng tình dục, rối loạn kiểm soát xung động, rối loạn nhân cách, rối loạn tâm thần, rối loạn đau. Sơ đồ phát triển của phương pháp nhận thức-hành vi được trình bày như hình 2. Trong đó, giáo dục chiếm vị trí khởi nguồn để điều chỉnh hành vi. Lý thuyết học hỏi xã hội của A.
Bandura (1977) mở rộng thêm quan điểm này và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 cho rằng hầu hết các lý thuyết học hỏi đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ về những điều mà họ đã trải nghiệm qua. Họ có thể học hỏi qua việc xem xét các ví dụ của người khác và điều này có thể áp dụng vào việc trị liệu. Kỹ thuật thực hiện trị liệu nhận thức-hành vi bao gồm ba bước: trang bị kiến thức cho bệnh nhân, xây dựng kỹ thuật về nhận thức, xây dựng kỹ thuật về hành vi. Trong bước xây dựng kiến thức cho bệnh nhân cần giải thích cho bệnh nhân về rối loạn của họ; giải thích cho bệnh nhân hiểu mối liên quan giữa ý nghĩ, cảm xúc và hành vi; hướng dẫn cho bệnh nhân những kiểu nhận thức lệch lạc thường gặp và xác định bệnh nhân thường rơi vào kiểu nhận thức nào, cùng với bệnh nhân xác định mục tiêu của quá trình điều trị.
Dưới góc độ trị liệu nhận thức hành vi, nếu xem những người nghiện thuốc lá, người có hành vi uống rượu bia gây hại như đối tượng cần trị liệu thì việc cung cấp kiến thức bước đầu cho họ rất quan trọng. Giáo dục có thể đảm nhiệm vai trò này như cung cấp kiến thức, làm cầu nối đưa kiến thức khoa học đến với họ để làm họ điều chỉnh hành vi, từ đó tạo hiệu lực để họ tự giải quyết vấn đề như dừng hút thuốc lá, dừng uống rượu bia gây hại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sơ đồ phát triển của phương pháp trị liệu nhận thức-hành vi Nguồn: J.McGuire (2000), Liverpool University, Cognitive-Behavioural Approaches TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về hành vi hút thuốc lá, uống rượu bia 2.1 Mô hình giáo dục tác động đến hành vi sức khỏe Theo thuyết nhận thức-hành vi, những người có nền tảng giáo dục cao thông thường sẽ nhận thức tốt hơn, môi trường làm việc và sinh sống của họ cũng tốt hơn những người có nền tảng giáo dục thấp, do đó hành vi của họ sẽ khác, họ tự điều chỉnh để có các hành vi tốt cho sức khỏe, cho cuộc sống của họ.
Nghiên cứu giáo dục tác động đến các hành vi sức khỏe tại Hoa Kỳ, David Cutler, Adriana Lleras- Muney (2010) sử dụng dữ liệu Điều tra về sức khỏe quốc gia tại Hoa Kỳ, dữ liệu Khảo sát Thanh Niên Hoa Kỳ, dữ liệu Khảo sát phát triển Trung niên Hoa Kỳ, dữ liệu nghiên cứu sức khỏe và Hưu trí Anh Quốc, dữ liệu Khảo sát về Hút thuốc Anh Quốc, và dữ liệu Nghiên cứu Phát triển trẻ em Anh Quốc để phân tích. Nhóm tác giả sử dụng nhiều nguồn dữ liệu như trên để đảm bảo kiểm định được tất cả các giả thiết được đưa ra.