Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài hay vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu từ đó đưa ra câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời, xác định phạm vi và đối tượng trong nghiên cứu từ đó đưa ra phương pháp nghiên cứu.
Cuối cùng, luận văn trình bày ý nghĩa nghiên cứu và tóm tắt kết cấu trong luận văn. Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Chương này giới thiệu khung lý thuyết về “Tác động của vốn huy động đến rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam”. Đầu tiên, chương này trình bày các khái niệm có liên quan như khái niệm vốn huy động và rủi ro tín dụng.
Tiếp theo là nêu tóm tắt các lý thuyết về mối quan hệ giữa vốn huy động và rủi ro tín dụng bao gồm các lý thuyết Đánh đổi (Trade-off), lý thuyết rủi ro đạo đức (Moral Hazard Hypothesis), giả thuyết về quản lý kém (Regulatory Hypothesis) và lý thuyết về vốn ngân hàng. Cuối cùng là lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày giả thuyết nghiên cứu và mô hình định lượng để kiểm định tác động của vốn huy động đến rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam.
Tiếp đến trình bày dữ liệu nghiên cứu của 26 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2020. Cuối cùng là trình tự xử lý dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày thống kê mô tả các biến phụ thuộc và biến độc lập, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình, kết quả phân tích hồi quy, kiểm định các khuyết tật của mô hình và đưa ra phương pháp khắc phục các vi phạm của mô hình, cuối cùng là thảo luận kết quả nghiên cứu.
Kết luận và khuyến nghị. Chương này sẽ đưa ra những kết luận và một số khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng và cơ sở lý thuyết nhằm gợi ý một số giải pháp giúp các nhà quản trị ngân hàng và các bên liên quan sử dụng hiệu quả vốn huy động đồng thời kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam trong tương lai. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ RỦI RO TÍN DỤNG Hoạt động ngành ngân hàng Việt Nam đang phát triển khá mạnh trong khoảng thời gian vài năm gần đây với giá trị tổng tài sản ngày càng lớn, thu hút sự quan tâm của nhiều thành phần trong xã hội. Theo Fitch (2000) “Tổ chức ngân hàng, thường là một công ty, nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán séc, và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng”.
Tại Việt Nam, Luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội ngày 16/6/2010 về việc ban hành Luật Các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan, như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán tài khoản. Vốn huy động là một trong ba hoạt động chính yếu của NHTM và được coi là hoạt động cơ bản có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho các NHTM. Từ nguồn vốn huy động này các ngân hàng tiến hành các hoạt động cho vay, đầu tư, dự trữ… mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động chính của các NHTM là huy động vốn để cho vay với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng.
Do vậy, vốn huy động và rủi ro tín dụng gắn bó mật thiết với nhau trong hoạt động NHTM. Để hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa vốn huy động và rủi ro tín dụng của NHTM, sau đây tác giả giới thiệu các khái niệm, nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm có liên quan.1 Vốn huy động 2.1 Khái niệm Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng kinh doanh trong một thời gian nhất định sau đó sẽ hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn. Nguyễn Đăng Dờn (2010) đã định nghĩa “Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với 7 trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau”.2 Đặc điểm của vốn huy động Nguyễn Đăng Dờn (2010) cho rằng vốn huy động của NHTM mang những đặc điểm chính như sau: Một là, vốn huy động trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn.
Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này. Do vậy chi phí trả lãi chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Trong vốn huy động thì vốn huy động từ tiền gửi thường chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tiền gửi là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác.
Huy động vốn là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận, rủi ro và sự phát triển trong ngân hàng. Hai là, về mặt lý thuyết vốn huy động là một nguồn vốn không ổn định, do khách hàng có thể rút tiền của họ bất cứ lúc nào. Do vậy để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng các NHTM cần phải duy trì một khoản “dự trữ thanh khoản”. Ba là, đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng.
Do vậy các ngân hàng luôn đổi mới để phát triển trong hoạt động huy động vốn nhằm thu hút được nhiều nguồn vốn huy động hơn. Hoạt động huy động vốn bao gồm: huy động từ tiền gửi của khách hàng và huy động từ các tổ chức tín dụng khác.3 Vai trò của vốn huy động Vốn huy động giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009a) thì không có vốn huy động xem như không có hoạt động của NHTM. Ngân hàng cần phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau để có vốn phục vụ cho các hoạt động như cho vay, đầu tư tài chính….
Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng. 8 Đối với ngân hàng, vốn huy động là nguồn vốn để ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, vốn huy động còn đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Ngân hàng có vốn huy động từ tiền gửi khách hàng càng lớn cho thấy ngân hàng đó không những xây dựng được hình ảnh thương hiệu uy tín mà còn có được lòng tin của khách hàng gửi tiền.
Đối với khách hàng, vốn huy động cung cấp cho khách hàng một loại hình cất giữ tiền nhàn rỗi vừa an toàn lại vừa sinh lời, đó là các loại hình tiền gửi tiết kiệm, đây vừa là một kênh tiết kiệm vừa là kênh đầu tư cho khách hàng gửi tiền để tìm kiếm lợi nhuận. Cuối cùng vốn huy động cung cấp cho khách hàng các dịch vụ đa dạng của ngân hàng như: dịch vụ thanh toán, chuyển khoản, phát hành séc, thấu chi, thanh toán L/C, dịch vụ cho vay, bảo lãnh, thế chấp, cầm cố… khi khách hàng cần vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng.4 Các hình thức huy động vốn Để kiểm soát rủi ro tín dụng một cách hiệu quả buộc các ngân hàng phải quản lý được các loại tiền tệ và các khoản tiền gửi đến hạn. Do vậy các ngân hàng phân loại các hình thức huy động vốn căn cứ vào loại tiền tệ và kỳ hạn. Huy động vốn căn cứ vào loại tiền tệ gồm huy động vốn nội tệ (VND) và huy động vốn ngoại tệ.
Huy động vốn căn cứ vào tính chất huy động và kỳ hạn gồm huy động vốn tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vốn vay và vốn khác. Huy động vốn tiền gửi Huy động vốn tiền gửi là hình thức huy động vốn từ người gửi tiền. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009a) “Huy động vốn thông qua hình thức tiền gửi là hình thức huy động truyền thống của NHTM, đây cũng là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tài chính phi ngân hàng, hình thức này làm cho ngân hàng được nhận ký thác hay còn gọi là tổ chức nhận ký thác trong khi đó các tổ chức tài chính phi ngân hàng không nhận ký thác và được gọi là tổ chức không nhận ký thác”. 9 Theo lý thuyết về nhu cầu tiền của Skidelsky (2014), mọi người nắm giữ tiền với ba động cơ chính là giao dịch, phòng ngừa và đầu tư.
Các ngân hàng đã sớm nhận ra điều này và cung cấp các loại hình tiền gửi khác nhau gồm tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm. Nếu tiền gửi nhằm mục đích thực hiện các giao dịch hàng ngày thì người gửi tiền tiết kiệm nhằm mục đích an toàn mà vẫn sinh lời đối với khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. x Tiền gửi không kỳ hạn - Tiền gửi không kỳ hạn là tiền gửi tạm thời của các tổ chức kinh tế, dân cư, có thể rút ra bất cứ lúc nào để sử dụng. Loại tiền gửi này biến động thường xuyên nhưng vẫn ổn định do số tiền gửi vào rút ra có thể bù trừ cho nhau, do vậy ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Do khách hàng gửi tiền gửi không kỳ hạn nhằm mục đích sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng nên loại tiền gửi này ngân hàng trả lãi rất thấp. - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là một loại hình của tiền gửi tiết kiệm do vậy người gửi tiền không được sử dụng dùng để thanh toán, chuyển khoản, chuyển tiền chi trả cho người khác. Do thời hạn gửi tiền là không kỳ hạn nên người gửi tiền có thể rút ra một phần hoặc toàn bộ số tiền bất cứ lúc nào với lãi suất rất thấp. x Tiền gửi có kỳ hạn - Tiền gửi có kỳ hạn, Nguyễn Đăng Dờn (2010) định nghĩa “Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền khách hàng gửi vào ngân hàng mà có sự thỏa thuận về thời hạn và khách hàng có thể rút trước hạn hoặc không rút trước hạn tùy theo nguyện vọng của khách hàng”.
Tiền gửi có kỳ hạn gồm tiền gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế, …người gửi tiền nhằm mục đích sinh lời.