Chương 1 giới thiệu các vấn đề liên quan đến nghiên cứu bao gồm: Lý do nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, sơ lược các phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và cấu trúc của luận án. 12 Chương 2 xem xét tổng quan các lý thuyết về TDNH, TTTD, TTKT, tác động của TDNH tới TTKT, lý thuyết ngưỡng TTTD và các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của TDNH tới TTKT. Trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, tác giả chỉ ra khoảng trống và đặt ra giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, thu thập số liệu và kỹ thuật phân tích dữ liệu để phù với mô hình đánh giá tác động được chọn.
Chương 4 trình bày song song các phân tích, đánh giá thực nghiệm về tác động của TDNH tới TTKT đã được nghiên cứu trước đây cũng như thực tiễn tại Việt Nam với những phát hiện thu được từ kết quả nghiên cứu gắn liền với các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Chương 5 kết luận những phát hiện chính của nghiên cứu, đưa ra khuyến nghị và hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý liên quan tới cải thiện vai trò của dòng vốn TDNH, cơ cấu dòng vốn tín dụng phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, các giải pháp kiểm soát tỷ lệ tín dụng/GDP tại Việt Nam. Đồng thời chỉ ra hạn chế của luận án cũng như hướng nghiên cứu mở rộng. TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã giới thiệu khái quát về đề tài để người đọc có thể hình dung về nghiên cứu.
Đầu tiên, chương 1 đặt vấn đề và trình bày lý do lựa chọn nghiên cứu tác động của TDNH tới TTKT tại Việt Nam. Thông qua bối cảnh thực tiễn có thể thấy được phần nào tác động của TDNH tới TTKT cũng như vai trò là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ quan trọng đối với nền kinh tế nước ta qua mỗi giai đoạn trong chu kỳ phát triển. Nhưng thực tế, tỷ lệ tín dụng/GDP tại Việt Nam luôn ở mức cao và có xu hướng gia tăng liên tục những năm gần đây. Vấn đề đặt ra là cách tiếp cận đánh giá và làm rõ tác động của TDNH tới TTKT tại Việt Nam.
Tiếp theo, chương này nêu lên mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ tác động của TDNH và phân vùng tác động theo ngưỡng tỷ lệ tín dụng/GDP tới TTKT tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu được thảo luận với tình hình thực tiễn, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện vai trò của dòng vốn này và những gợi ý chính sách phù hợp cho cơ quan quản lý. Từ mục tiêu nghiên cứu, chương 1 đề ra các câu hỏi nghiên cứu cần giải đáp, xác định đối tượng nghiên cứu là tác động của TDNH tới TTKT, phạm vi nghiên cứu tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2004-2020. Về phương pháp nghiên cứu, chương 1 chỉ ra phương pháp 13 chính được sử dụng trong luận án là phương pháp định lượng, bên cạnh đó các phương pháp như phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh được sử dụng nhằm làm rõ các cơ sở lý thuyết về TDNH, TTTD, TTKT, về tác động của TDNH tới TTKT, lý thuyết ngưỡng TTTD, phương pháp này còn được sử dụng nhằm thảo luận kết quả nghiên cứu với thực tiễn nền kinh tế tại Việt Nam. Ngoài ra, chương 1 còn chỉ ra các đóng góp mới của luận án ở cả hai khía cạnh học thuật và thực tiễn.
Về mặt học thuật, điểm mới đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu của luận án là cách tiếp cận đánh giá tác động của TDNH tới TTKT, đồng thời cải thiện ý nghĩa thống kê của các giá trị p-value bằng cách chuyển sang BFB. Về mặt thực tiễn, luận án đánh giá được mức độ tác động và làm rõ sự biến thiên tác động của TDNH tới TTKT theo ngưỡng tỷ lệ tín dụng/GDP tại Việt Nam trong giai đoạn 2004-2020, giai đoạn mà các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế có nhiều biến động. Cuối cùng, chương 1 nêu lên cấu trúc của luận án gồm 05 chương và nội dung khái quát của từng chương. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về TDNH, TTTD, TTKT, các lý thuyết về tác động của TDNH tới TTKT và lý thuyết ngưỡng TTTD.
Đồng thời, chương này cũng khảo lược các nghiên cứu trước có liên quan nhằm đặt ra giả thuyết và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu trong việc đánh giá tác động của TDNH tới TTKT tại Việt Nam. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. Khái niệm tín dụng ngân hàng TDNH là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả các khoản cho vay của toàn hệ thống ngân hàng, dù chúng được thực hiện dưới hình thức nào (Nguyễn Văn Ngọc, 2006). Nguyễn Minh Kiều (2009) cho rằng TDNH là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Cũng như quan hệ tín dụng khác, TDNH chứa đựng 3 nội dung sau: (i) có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng; (ii) sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời; (iii) sự chuyển nhượng này có kèm chi phí. Hình thức chuyển nhượng vốn trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các chủ thể trong nền kinh tế đa dạng, theo đó tại khoản 14, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, các hình thức cấp tín dụng bao gồm: nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Tóm lại, TDNH là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng (bên cho vay) với các tổ chức và cá nhân (bên đi vay). Trong đó bên cho vay chuyển giao một hoặc một số tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Phân loại tín dụng ngân hàng TDNH là hình thức cấp tín dụng phổ biến bên cạnh tín dụng thương mại, cung ứng vốn kịp thời, linh hoạt cho các chủ thể trong nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư. Tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản có của ngân hàng, là cơ sở tạo thu nhập và mang lại lợi nhuận cho chính bản thân mỗi ngân hàng, ngoài ra tín dụng còn là kênh hỗ trợ quan trọng trong việc thực thi các mục tiêu của chính sách tiền tệ tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Theo đó, TDNH được 15 phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu bao gồm: căn cứ vào thời hạn tín dụng (tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn); căn cứ vào hình thức đảm bảo (tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo); căn cứ vào chủ thể vay vốn (tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân, hộ gia đình, tín dụng Nhà nước). Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả phân tích sâu hơn về cơ cấu TDNH đối với từng nhóm ngành trong nền kinh tế.
Tài chính nói chung, TDNH nói riêng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế thông qua việc phân bổ vốn cho các hoạt động làm gia tăng sản lượng của nền kinh tế và các hoạt động trung gian hỗ trợ cho các chủ thể trong hoạt động sản xuất, đầu tư kinh doanh và tiêu dùng (Greenwood và Smith, 1997; King và Levine, 1993a). Cấu trúc của nền kinh tế được tiếp cận dưới góc độ cơ cấu theo ngành, lĩnh vực, cơ cấu theo thành phần kinh tế và sự liên kết giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế, các thành phần kinh tế góp phần tạo nên tổng thể nền kinh tế của một quốc gia. Hoạt động sản xuất của nền kinh tế được phân loại thành các nhóm lớn gọi là khu vực kinh tế và các nhóm nhỏ hơn gọi là ngành. Hệ thống phân ngành do Liên hợp quốc đề nghị được gọi là hệ thống phân ngành tiêu chuẩn (International standard industrial classification of all economic activities- ISIC).
Thông thường nền kinh tế được chia thành 03 khu vực cơ bản: (i) khu vực sơ chế hay khai thác, bao gồm các ngành sản xuất nguyên liệu và trồng trọt, chăn nuôi; (ii) khu vực thứ cấp hay chế biến, bao gồm các ngành chế biến, xây dựng, điện nước; và (iii) khu vực dịch vụ bao gồm các ngành bán lẻ, thông tin, ngân hàng và du lịch (Nguyễn Văn Ngọc, 2006). Tầm quan trọng tương đối của mỗi khu vực có xu hướng thay đổi khi nền kinh tế phát triển theo thời gian, các nước có trình độ phát triển thấp khu vực sản xuất tạo ra nguyên liệu thô chiếm tỷ trọng cao, các nước đang phát triển tập trung nhiều hơn cho công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu vực dịch vụ phát triển mạnh hơn ở các nước tiên tiến. Tùy thuộc vào các pha trong chu kỳ phát triển kinh tế và thế mạnh về các lĩnh vực hoạt động của mỗi nước mà hệ thống ngân hàng sẽ phân bổ dòng vốn tín dụng một cách hiệu quả nhất thúc đẩy gia tăng sản lượng của nền kinh tế, đi cùng với mức độ phát triển kinh tế, hệ thống ngân hàng ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn và các hoạt động trung gian (Greenwood và Smith, 1997; Tongurai và Vithessonthi, 2018). Nói rõ hơn, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, quy mô hệ thống ngân hàng theo đó ở mức nhỏ, dòng vốn TDNH phân bổ cho tất cả các lĩnh vực bao gồm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, trong đó lượng vốn tài trợ từ các ngân hàng tập trung nhiều vào các lĩnh vực có lợi thế tại mỗi quốc gia, xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần gia tăng sản lượng nhanh.
Ở giai đoạn nền kinh tế phát 16 triển, hệ thống ngân hàng theo đó lớn hơn, lượng vốn tín dụng tập trung vào các ngành công nghiệp, công nghệ cao, các ngành dịch vụ đem lại nhiều giá trị gia tăng, dòng vốn TDNH phục vụ các hoạt động nông nghiệp có xu hướng dịch chuyển sang nhóm nông nghiệp xanh, ứng dụng khoa học công nghệ hoặc tài trợ vốn theo hình thức chuỗi cung ứng.