Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này nêu ra lý do chọn đề tài, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến các thành phần của vốn lưu động, lợi nhuận, quản trị vốn lưu động của công ty.
Phần cuối của chương trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây. c 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, mô tả và đo lường các biến. Trình bày các phương pháp lựa chọn mô hình và phân tích hồi quy.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này sẽ bắt đầu bằng việc đưa ra một số đặc điểm của công ty ngành thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán. Sau đó trình bày và phân tích các số liệu thống kê mô tả của nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến và phân tích hồi quy và cuối cùng là thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với các đối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu. Chương này cũng nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. c 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến quản trị vốn lưu động, các nhân tố cấu thành nên vốn lưu động và sự tác động của quản trị vốn lưu động tới lợi nhuận. Sau đó, tác giả sẽ đưa ra hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến nghiên cứu về quản trị vốn lưu động và những điều học hỏi được rút ra từ những nghiên cứu này.1 Tổng quan về quản trị vốn lưu động Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội, doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.1 Vốn lưu động “Vốn lưu động” là thuật ngữ dùng để chỉ dòng vốn cấp thiết đáp ứng nhu cầu về tiền cho các hoạt động thường ngày của một doanh nghiệp.
Theo Phan Đình Nguyên (2013), biểu hiện dưới hình thái vật chất của vốn lưu động là tài sản lưu động. Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Vốn lưu động là một công cụ trong quá trình quản trị công ty để tạo ra lợi nhuận và sự tăng trưởng. Sự thiếu hụt vốn lưu động có thể dẫn đến những khó khăn trong hoạt động hàng ngày của công ty (Horne & achowicz, 2000).
Trong bảng cân đối kế toán, có hai khoản mục quan trọng có liên quan tới vốn lưu động là “Tổng vốn lưu động” (Gross working capital) và “Vốn lưu động ròng” (Net working capital). “Tổng vốn lưu động” được biết tới như là tổng các tài sản ngắn hạn và được định nghĩa bởi từ điển “Tài chính ngân hàng” (Law & Smullen, 2005) của Oxford như sau: “Tổng vốn lưu động là tổng các khoản tiền và tương đương tiền mà công ty đang nắm giữ. Các khoản tương đương tiền có thể là hàng tồn kho, khoản phải thu, và đầu tư tài chính ngắn hạn” “Vốn lưu động ròng là lượng vốn thanh khoản trong hoạt động hàng ngày của công ty và được đo lường bởi hiệu số giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn” c 7 Trong các nghiên cứu kinh tế thông thường đề cập đến vốn lưu động ròng và đôi khi được gọi tắt là vốn lưu động.2 Quản trị vốn lưu động Trước năm 1980, quản trị vốn lưu động thông thường được chia nhỏ thành tiền mặt, khoản phải thu, khoản phải trả và mỗi thành phần được quản trị bởi từng nhà quản lý riêng (Sartoris & Hill, 1983). Tuy nhiên (Sartoris & Hill, 1983) cho rằng việc quản trị vốn lưu động hiệu quả cần phải được xem xét một cách tổng thể bằng cách kết hợp cả ba thành phần này lại.
Các nghiên cứu kinh tế hiện nay cũng xem xét việc quản trị vốn lưu động dưới cái nhìn tổng thể như (Sartoris & Hill, 1983) đã đề cập. Theo Paramasivan & Subramanian (2009), quản trị vốn lưu động ( orking capital management – CM) là việc “xử lý các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát các nhân tố cấu thành nên vốn lưu động như là tiền mặt, vay ngắn hạn, khoản phải trả, khoản phải thu và tồn kho”. Từ điển “Tài chính ngân hàng” (Law & Smullen, 2005) của Oxford định nghĩa CM như sau: “WCM liên quan tới việc quản trị mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và vốn ngắn hạn với mục tiêu là đảm bảo việc duy trì các hoạt động kinh doanh hàng ngày và đảm bảo đủ dòng tiền để phục vụ cho việc chi trả các khoản nợ ngắn hạn tới hạn và các chi phí hoạt động sắp xảy ra”. Kết hợp các khái niệm nêu trên, nghiên cứu này đưa ra khái niệm về quản trị vốn lưu động như sau: “Quản trị vốn lưu động là việc quản trị các nhân tố tạo thành vốn lưu động như tiền mặt, vay ngắn hạn, khoản phải trả, khoản phải thu, và tồn kho nhằm mục đích duy trì các hoạt động kinh doanh hàng ngày và đảm bảo đủ dòng tiền để chi trả các khoản nợ ngắn hạn tới hạn và các chi phí hoạt động sắp xảy ra”.
Quản trị vốn lưu động là công việc vô cùng quan trọng của công ty, đặc biệt là đối với các công ty sản xuất thương mại và phân phối bởi vì thông thường các công ty này có lượng vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản (Raheman & Nasr, 2007). Việc quản trị vốn lưu động không tốt có thể làm cho một công ty đang hoạt động hiệu quả và có lợi nhuận ổn định trở nên bị phá sản (Kargar & Bluementhal, 1994).3 Mục tiêu của quản trị vốn lưu động Theo Gitman (2009) mục tiêu của quản trị vốn lưu động là tối thiểu hóa chu kỳ tiền mặt (Cash conversion cycle – CCC) và lượng vốn tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Nó tập trung vào việc kiểm soát các khoản phải thu, các khoản phải trả, và quản lý việc đầu tư vào hàng tồn kho. Quản trị vốn lưu động đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại, sự ổn định và hiệu quả kinh doanh của công ty.
einraub và Visscher (1998) cho rằng các nhà quản lý có thể quản trị vốn lưu động theo ba hướng tiếp cận mang tính đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro: năng động, ôn hòa và bảo thủ. Đặc điểm của chiến lược năng động là lợi nhuận cao và rủi ro cao. Trong chiến lược này công ty nắm giữ một lượng hàng tồn kho tối thiểu, lượng tiền mặt vừa đủ và thúc ép khách hàng trả tiền hàng sớm ngay khi có thể. Bằng cách đó công ty sẽ tối thiểu hóa chi phí tồn kho và chi phí dành cho khoản phải thu, nhưng đánh đổi lại công ty sẽ gặp rủi ro trong việc không đủ lượng hàng cung cấp ra thị trường hoặc trong dự phòng rủi ro.
Chiến lược ôn hòa mang đặc điểm của lợi nhuận và rủi ro ở mức trung bình, công ty đưa ra chính sách tồn kho, tồn trữ tiền mặt và kỳ thu tiền hàng ở mức trung bình. Cuối cùng, chiến lược bảo thủ đề cập tới mục đích an toàn, ở đó công ty chấp nhận mức lợi nhuận thấp nhất nhưng đổi lại mức rủi ro cũng ở mức thấp nhất. Trong chiến lược này, công ty đạt được lợi thế khi giảm được chi phí cung ứng, tránh được hiện tượng giá cả hàng hóa dao động lớn, tăng doanh thu nhờ vào việc chấp nhận chính sách tồn kho cao và khoản phải thu cao. Tuy nhiên do chi phí dành cho tồn kho và các khoản phải thu tăng nên làm cho lợi nhuận giảm xuống đồng thời công ty còn phải đối mặt với rủi ro không thu được các khoản khách hàng mua do chấp nhận nới rộng chính sách bán chịu.
Sự thành công của một doanh nghiệp có liên quan nhiều đến quản trị vốn lưu động có hiệu quả hay không? Mỗi doanh nghiệp đều có thể đưa ra một con số doanh thu tuyệt vời, giá trị tài sản lớn, quy mô vốn đồ sộ. Tuy nhiên, độ lớn của những con số này không nói lên tất cả và cũng không có nghĩa là doanh nghiệp đang nắm giữ rất nhiều tiền. Tiền của doanh nghiệp có thể đọng ở các khoản phải thu, hàng tồn kho, lượng vốn biết đâu lại là các khoản phải trả. Vì vậy cần phải xem xét một cách cẩn trọng các thông tin, chỉ số của doanh nghiệp trong đó có hoạt động quản lý c 9 vốn lưu động là quản trị các thành phần cấu thành nên nó bao gồm quản trị vốn bằng tiền, các khoản phải thu, các khoản phải trả và quản trị hàng tồn kho 2.2 Các nhân tố chính cấu thành nên vốn lưu động Các nhân tố chính cấu thành nên quản trị vốn lưu động thường được sử dụng bao gồm: Quản trị khoản phải thu, Quản trị khoản phải trả, Quản trị hàng tồn kho, Quản trị vốn bằng tiền.1 Quản trị khoản phải thu Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh nghiệp thường áp dụng phương pháp bán chịu cho khách hàng.
Mua bán chịu phát sinh khi người bán tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu sẩn phẩm hàng hóa dịch vụ của mình cho người mua với cam kết trả tiền vào một ngày xác định trong tương lai. Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro.Đổi lại doanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ. Mục tiêu của quản trị khoản phải thu là tối đa hóa giá trị của công ty thông qua việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.