CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Các công ty cung cấp thông tin thông qua báo cáo tài chính. Công ty đi vay làm giảm thông tin bất cân xứng đối với ngân hàng bằng cách cải thiện báo cáo tài chính của họ, ví dụ sử dụng các phương pháp kế toán phức tạp hơn (Cassar và cộng sự, 2015) để thể hiện chất lượng cao của các dự án của họ (Jaffee và Russell, 1976) và tăng khả năng tiếp cận với nguồn nợ vay và lãi suất thấp hơn (Cassar và cộng sự, năm 2015). Các nghiên cứu trước đây đã cho rằng các quyết định phê duyệt tín dụng được dựa trên thông tin kế toán (Cassar et al., 2015;Petersen và Rajan, 1994), điểm tín dụng (Cassar và cộng sự, 2015, Petersen, 2004) và các dữ liệu tổng quát khác (Berger và Udell, 2006). Gần đây, kể từ khi ban hành quy định Basel II về đánh giá rủi ro ngân hàng, các ngân hàng đã được hướng dẫn để ưu tiên xem xét thông tin kế toán và điểm tín dụng hơn là các nguồn thông tin khác để đánh giá chất lượng tín nhiệm của người vay (Petersen, 2004).
Trong một bối cảnh mà phương pháp kế toán dồn tích là bắt buộc, thông tin kế toán đóng một vai trò quan trọng bởi vì nó quyết định điểm tín dụng. Mặc dù các nghiên cứu trước đây cho thấy sự liên quan của các nguồn thông tin kế toán trong quá trình phê duyệt tín dụng, nhưng không nghiên cứu nào đo lường ảnh hưởng của chất lượng thu nhập trong quá trình này. Nghiên cứu của tôi một phần lấp đầy khoảng trống của các nghiên cứu trước đây bằng cách tập trung vào mối quan hệ giữa chất lượng tín dụng của công ty và hoạt động quản lý thu nhập của họ, đó là một trong những kỹ thuật đo lường được sử dụng trong nghiên cứu về chất lượng thu nhập. Các học giả thường nghiên cứu những động lực của việc cố ý quản lý thu nhập trong các công ty đại chúng.
Hành vi cố ý quản lý số liệu kế toán nói chung được chứng minh là những nỗ lực của các nhà quản lý nhằm né tránh phản ứng tiêu cực của các nhà đầu tư trong thị trường tài chính trước những thông tin xấu. 123doc 2 Mục tiêu nghiên cứu của bài: Liệu các công ty niêm yết có thực hiện quản lý thu nhập để cải thiện khả năng đi vay nhằm vay được nhiều hơn với chi phí thấp hơn hay không? Việc áp dụng Basel II trong đánh giá rủi ro của ngân hàng đối với doanh nghiệp làm gia tăng hay giảm đi hành vi quản lý thu nhập? Phạm vi và phương pháp nghiên cứu: Tôi phân tích tác động của hành vi cố ý quản lý lợi nhuận lên số tiền và chi phí đi vay trên mẫu dữ liệu gồm 180 doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam (một nền kinh tế mà các các khoản vay của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào việc vay ngân hàng), trong giai đoạn 2009-2016, giai đoạn này bao gồm cả trước và sau khi quy định Basel II được áp dụng tại Việt Nam trong việc đánh giá rủi ro ngân hàng (Basel II bắt đầu được áp dụng cho các ngân hàng Việt Nam vào năm 2016). Về phương pháp kinh tế lượng, tôi sử dụng mô hình GMM để kiểm soát vấn đề nội sinh. Kết quả nghiên cứu: Số tiền vay có tương quan âm đối với hoạt động quản lý thu nhập của công ty vay cả trong thời điểm cho vay (quản lý lợi nhuận sau vay) và trước khi thực hiện hợp đồng cho vay (quản lý lợi nhuận trước vay).
Hơn nữa, đáng ngạc nhiên, việc quản lý thu nhập không có tương quan hoặc có tương quan dương với chi phí vay, điều này cho thấy mức độ khan hiếm của vốn vay đã khiến cho các doanh nghiệp tìm kiếm khoản vay lớn hơn mặc dù có thể chịu lãi suất quá cao. Đồng thời, các định chế tài chính có thể xem việc quản lý thu nhập của doanh nghiệp là hành vi gây rủi ro, từ đó doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí vay cao để bù đắp cho rủi ro của hành động này. Sự tương quan giữa hoạt động quản lý thu nhập của công ty đi vay và khả năng vay vốn của nó được giảm đi sau khi ban hành quy định Basel II. Những phát hiện này có ý nghĩa về mặt kinh tế và vững thông qua các phương pháp kiểm định khác nhau.
Kết quả của nghiên cứu này đồng tình 123doc 3 với các nghiên cứu trước về thị trường cho vay đại chúng ở Mỹ ( Ahn và Choi, 2009), nhưng lại trái với các nghiên cứu khác (Bushman and Williams, 2012) rằng việc thi hành các quy định đánh giá rủi ro gây nên những ảnh hưởng xấu không mong muốn đến chất lượng thu nhập của người cho vay. Điểm mới của đề tài: Thứ nhất, chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam thực hiện về đề tài hiệu quả kinh tế và tác động của các quy định Basel II trong việc đánh giá rủi ro của ngân hàng lên chất lượng kế toán của công ty đi vay. Đây là một nghiên cứu thực nghiệm hỗ trợ một số nghiên cứu lý thuyết dự đoán về những khả năng ảnh hưởng của Basel II đối với các công ty đi vay, những phát hiện của tôi có thể là đáng quan tâm đối với các nhà quản lý ngân hàng - tổ chức nên xem xét tính khả thi và hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc trong việc đánh giá tín nhiệm của khách hàng vay. Thứ hai, nghiên cứu này chỉ ra những động cơ cho việc quản lý thu nhập, điều này đã mở rộng nghiên cứu của Ahn và Choi (2009) trong bối cảnh các công ty đại chúng.
Bài nghiên cứu cũng bổ sung cho nghiên cứu của Cassar và cộng sự (2015) về việc các công ty ở Mỹ có được khả năng vay tốt hơn bằng cách thể hiện những tín hiệu làm giảm sự bất đối xứng thông tin với người cho vay; một trong những cách đó là việc áp dụng tự nguyện phương pháp kế toán dồn tích (thường cải thiện chất lượng kế toán và đóng vai trò thể hiện tính phức tạp của kế toán). Trong nghiên cứu này, tôi ghi nhận rằng việc quản lý thu nhập (thường làm suy giảm chất lượng kế toán) dường như không giúp người vay có khả năng vay vốn tốt hơn ở những quốc gia có mà phương pháp kế toán dồn tích là bắt buộc. Thứ ba, tôi cung cấp bằng chứng rằng hoạt động quản lý thu nhập có thể tốn kém cho các doanh nghiệp khi doanh nghiệp quản lý thu nhập để có được khoản vay ngân hàng lớn hơn, bất kể chi phí quá mức của việc làm này. Ngoài ra, nghiên cứu này hỗ trợ nghiên cứu của Erickson và cộng sự (2004) rằng khi các nhà quản lý phóng đại thu nhập của 123doc 4 họ, họ không vận dụng việc điều chỉnh này vào chi phí, do đó làm cho việc quản lý thu nhập trở nên đắt đỏ hơn về phương diện thuế.
Hơn nữa, tôi đã tiếp nối các việc nghiên cứu sâu hơn từ các nghiên cứu trước đây, như hợp đồng cho vay (Dechow và cộng sự, 2010). Phần còn lại của nghiên cứu này được tổ chức như sau Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Chương 3: Phát triển giả thuyết Chương 4: Phương pháp nghiên cứu Chương 5: Mô tả và lựa chọn mẫu Chương 6: Kết quả và thảo luận Chương 7: Kết luận 123doc 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Định nghĩa quản lý thu nhập Theo nghiên cứu của Healy và Whalen (1999), quản lý thu nhập được định nghĩa là hoạt động xảy ra khi các giám đốc sử dụng việc điều chỉnh báo cáo tài chính và các giao dịch cấu trúc nhằm thay đổi thành quả hoạt động của công ty trước các đối tượng có liên quan, hoặc nhằm ảnh hưởng lên kết quả hợp đồng mà phụ thuộc vào con số kế toán.
Có rất nhiều cách để giám đốc có thể thay đổi báo cáo tài chính. Ví dụ như sự thay đổi về các giá trị tương lai phản ánh trong báo cáo tài chính như dòng đời hoạt động và giá trị còn lại của tài sản dài hạn, thuế hoãn lại, khoản dự phòng giảm giá tài sản hoặc nợ khó đòi. Giám đốc phải lựa chọn giữa các phương pháp kế toán được chấp nhận để ghi nhận một giao dịch, chẳng hạn như dùng phương pháp khấu hao đường thẳng hay tăng dần, ghi nhận hàng tồn kho theo LIFO, FIFO. Hơn nữa, họ có thể điều chỉnh vốn lưu động (ví dụ mức độ hàng tồn kho, thời điểm nhập và xuất kho, chính sách trả chậm) và tất cả các khoản mục này ảnh hưởng đến việc ghi nhận doanh thu và chi phí.
Đồng thời, việc ghi nhận các điều khoản hợp đồng có thể được cấu trúc, chẳng hạn như tài sản đi thuê có thể được sắp xếp để không ghi nhận trên báo cáo tài chính hoặc các khoản đầu tư vốn được sắp xếp để không phải hợp nhất trên báo cáo tài chính. Tổng quan nghiên cứu 2. Cơ sở phê duyệt tín dụng của ngân hàng Ngân hàng ước tính mức độ tin cậy của khách hàng vay dựa trên khả năng trả nợ của họ. Ước tính này dễ dàng hơn và đáng tin cậy hơn khi sự bất cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay được giảm (Cassar và cộng sự, năm 2015).
Ba nguồn thông tin chính có thể giảm bất cân xứng trong quyết định cho vay: thông tin kế toán, điểm tín dụng và các thông tin chung khác bao gồm thông tin dựa trên mối quan hệ (Cassar và cộng sự, 2015). Khi nộp đơn xin vay vốn, người vay tiềm năng phải cung cấp một số 123doc 6 loại thông tin tài chính, có thể khác nhau về sự phức tạp từ các báo cáo ngân hàng đơn giản và các tờ khai thuế cho đến các báo cáo kế toán phức tạp hơn sử dụng những nguyên tắc kế toán chung. Tuy nhiên, các báo cáo kế toán không phải là nguồn thông tin thẩm định cho vay "cứng" duy nhất để ngân hàng có thể sử dụng khi đánh giá các đơn xin vay. Điểm tín dụng đến từ cơ quan xếp hạng tín nhiệm cung cấp một nguồn thông tin khác để đánh giá người đi vay (Petersen, 2004), và nguồn thông tin này có khả năng làm giảm tầm quan trọng về mặt thông tin từ các thông tin báo cáo kế toán phức tạp.