Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Giới thiệu đề tài nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của đề tài, đƣa ra các câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Trình bày lý thuyết về nợ xấu và tiêu chí phân loại nợ xấu, hiệu quả kinh doanh tại Việt Nam và trên thế giới. Tóm lƣợc các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh theo lý thuyết và lƣợc khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về tố tác động nợ xấu đến hiệu quả kinh doanh tại các NHTM. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, chƣơng này xây dựng mô hình nghiên cứu và trình bày phƣơng pháp nghiên cứu, đề xuất các giả thuyết cũng nhƣ tác động của nợ xấu đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu 5 Thống kê mô tả các biến trong mô hình, phân tích tƣơng quan mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả thiết hồi quy mô hình nghiên cứu, tiến hành các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp. Thảo luận kết quả nghiên cứu. Từ mô hình xác định yếu tố nào thực sự tác động đến nợ xấu và chiều hƣớng tác động. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Luận văn đề xuất các hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu đối với các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nƣớc nhằm góp phần hạn chế nợ xấu để gia tăng hiệu quả kinh doanh tại các NHTM và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong chƣơng này, tác giả giới thiệu cơ sở lý thuyết nợ xấu và hiệu quả kinh doanh của NHTM. Đồng thời, chƣơng này cũng tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam để làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở chƣơng sau. Một số vấn đề chung về nợ xấu và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm nợ xấu Việc các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) mở rộng tín dụng đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong hai thập kỷ (Cingolani, 2013).
Đây là kết quả của việc tự do hóa thị trƣờng tài chính, mặt khác, sự phát triển của công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã dẫn đến sự gia tăng vai trò trung gian tài chính (Panopoulou 2005; Rinaldi và Sanchis Arellano 2006a, b). Tự do hóa tài chính đã tăng cƣờng sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cả ở châu Âu và trên toàn thế giới; gia tăng cạnh tranh làm cho nợ xấu của NHTM ngày càng gia tăng do việc hạ thấp quá mức các tiêu chuẩn cho vay (Salas và Saurina 2002). Berger và Humphrey (1997) và Manz (2019) đã sử dụng thuật ngữ Non – performing loan để thể hiện nợ xấu, nợ xấu là các khoản cho vay của NHTM có thời gian quá hạn ít nhất 90 ngày, dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng về giá trị danh mục cho vay của các ngân hàng thƣơng mại. Thuật ngữ “nợ xấu” trong tiếng Anh ngoài từ “Non –performing loan” có thể đƣợc thay thế bằng các thuật ngữ khác nhƣ “Bad debt” hay “Doubtful debt” (Fofack, 2005).
Một khoản cho vay đƣợc coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dƣới 90 ngày nhƣng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ không đƣợc thực hiện đầy đủ” (Messai và Jouini, 2013). Trong khi đó, Ủy ban Basel xác định khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện bất cứ động thái gì để thu hồi nợ ví 7 dụ nhƣ xử lý tài sản đảm bảo; (ii) ngƣời vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Và Ủy ban Basel đặc biệt nhấn mạnh đến khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tƣơng lai” (expected loss) khi đánh giá một khoản vay. Tại Việt Nam, theo Thông tƣ số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài (Thông tƣ 11), có hiệu lực từ 01/10/2021: “Nợ xấu là những khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 3 (dƣới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”.
Theo đó nợ nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời các ngân hàng thƣơng mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Tóm lại, theo các khái niệm trên thì nợ xấu đƣợc xác định theo 2 yếu tố chính: (i) nợ quá thời hạn thanh toán cả gốc, lãi từ 90 ngày trở lên và (ii) sự nghi ngờ về khả năng trả nợ của ngƣời đi vay. Đề tài cũng sử dụng tỷ lệ nợ xấu đƣợc đo lƣờng bằng giá trị khoản cho vay bị quá hạn trên 90 ngày trên tổng dƣ nợ trong các báo cáo chính thức theo chuẩn mực kế toán Việt Nam của các NHTM để thực hiện nghiên cứu. Hậu quả của nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu thể hiện rủi ro tín dụng của NHTM, chỉ tiêu này liên quan đến chất lƣợng tài sản ngân hàng và phản ánh rủi ro dòng tiền từ các khoản vay còn lại và chứng khoán do các tổ chức tài chính nắm giữ có thể không đƣợc thanh toán đầy đủ (Saunders và Cornet, 2008).
Qua một số nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả đã chứng minh rằng các khoản nợ xấu cao thƣờng là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng (Gup và Kolari, 2005), Samad, 2012) cũng nhƣ gia tăng tính dễ bị tổn thƣơng trong hệ thống ngân hàng và khu vực tài chính tổng thể (Desmet, 2000). Chất lƣợng tài sản của các NHTM giảm sút không chỉ gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng mà còn có thể làm giảm hiệu quả kinh tế và sự thịnh vƣợng (Desmet, 2000). Barseghyan (2010) đã đo lƣờng tác động của việc giảm hoạt động kinh tế ở Nhật Bản, trong khoảng thời gian gọi là “thập kỷ mất mát” của những năm 1990. Sự chậm trễ trong việc cung cấp gói cứu trợ do chính phủ, nợ xấu gây ra sự suy giảm hoạt động kinh tế bằng cách thu hẹp các quỹ có thể đƣợc sử dụng cho các khoản đầu tƣ hiệu quả.
Các tác giả khác gọi NPL là “ô nhiễm tài chính” vì tác động tiêu cực đến 8 kinh tế của chúng (Barseghyan, 2010). Kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ, mức nợ xấu đã tăng lên đáng kể, ảnh hƣởng tiêu cực đến tính thanh khoản và lợi nhuận của các tổ chức tín dụng, đồng thời làm suy giảm tính vững chắc của hệ thống ngân hàng. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để kiểm soát và giảm nợ xấu, nhƣng vấn đề này vẫn là điểm đáng chú ý đối với cả cơ quan quản lý và ngân hàng (Barseghyan, 2010). Nguyên nhân gây ra nợ xấu Sự tồn đọng và phát triển của nợ xấu đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Nợ xấu gia tăng sẽ có tác động tiêu cực đến hệ thống NHTM và cho toàn bộ hệ thống tài chính (Barseghyan, 2010). Nguyên nhân của nợ xấu xuất phát từ các khía sạnh sau đây: * Nguyên nhân xuất phát từ phía ngân h ng: Phạm Dƣơng Phƣơng Thảo và Nguyễn Linh Đan (2018) cho rằng do ngân hàng không có đủ thông tin chính xác để phân tích và đánh giá khách hàng, dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phƣơng án xin vay hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phƣơng án kinh doanh của khách hàng. Bên cạnh đó, các tác giả còn cho rằng đạo đức nghề nghiệp không tốt cùng năng lực chuyên môn của nhân viên ngân hàng chƣa theo kịp yêu cầu; tiêu cực trong khâu lập phƣơng án, thẩm định, xét duyệt và theo dõi khoản vay. Manz (2019) đã chứng minh nợ xấu xuất phát từ việc NHTM thiếu chặt chẽ trong việc kiểm tra trƣớc, trong và sau khi cho vay dẫn đến việc thiếu thông tin khách hàng sử dụng sai mục đích.
Sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng gay gắt dẫn đến chạy theo qui mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lƣợng khoản vay. Hơn nữa, Salas và Saurina (2002) đã chứng minh tăng trƣởng đột biến giá trị các khoản vay trong khi NHTM không quan tâm đến chất lƣợng tín dụng, chƣa phân tích kỹ phƣơng án kinh doanh của khách hàng cũng là nguyên nhân gây ra nợ xấu. * Nguyên nhân xuất phát từ ng i i vay: Phạm Dƣơng Phƣơng Thảo và Nguyễn Linh Đan (2018) cho rằng năng lực quản lý kinh doanh hạn chế; nhiều doanh nghiệp đầu tƣ vào nhiều lĩnh vực vƣợt quá khả năng quản lý; qui mô kinh doanh phình to so với tƣ duy quản lý là nguyên nhân dẫn 9 đến phá sản của các phƣơng án kinh doanh khả thi lẽ ra nó phải thành công trong thực tế. Salas và Saurina (2002) đã phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp không minh bạch, yếu kém là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng nợ xấu.
Qui mô vốn chủ sở hữu nhỏ, cơ cấu tài chính thiếu cân đối; công tác quản lý tài chính - kế toán không minh bạch dẫn đến thông tin ngân hàng có đƣợc khi lập các bảng phân tích tài chính, đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp không chính xác. * Nh ng nguyên nhân há h quan há : Những bất cập trong cách quản lý của chính phủ để tăng trƣởng kinh tế đạt mục tiêu, chính phủ ƣu tiên cho vay vốn các doanh nghiệp nhà nƣớc, có những dự án lớn chỉnh phủ đứng ra bảo lãnh để vay vốn đầu tƣ, khi hoạt động bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng chi trả nợ vay ngân hàng (Beck và cộng sự, 2013). Khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh có thể phát sinh nợ xấu mà con ngƣời không thể tránh khỏi (Gup và Kolari, 2005; Samad, 2012).