Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu là phần trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày các quan niệm liên quan đến các biến được sử dụng trong nghiên cứu , các cơ sở lý luận liên quan đến thu nhập, chi tiêu, nghèo đói, kiều hối và lược khảo các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình và dữ liệu nghiên cứu. 123doc 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Trình bày kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu , xác định mối quan hệ giữa kiều hối với thu nhập và chi tiêu các hộ gia đình Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách: Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra các khuyến nghị về phân phối thu nhập, chi tiêu và xóa đói giảm nghèo. Đưa ra một số hạn chế và các hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về hộ gia đình Theo Liên hợp quốc: Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ. Năm 1981, Harris (Anh) cho rằng :” Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái “ Hệ thống thế giới” (Mỹ) là Smith, Martin (1985) và Beiltell (1987) bổ sung thêm “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung”.
Tại Hội thảo quốc tế lần 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “ Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”. Ở Việt Nam, hộ gia đình là các thành viên có tài sản chung, cùng góp công sức để phát triển hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự thuộc lĩnh vực này. Pháp luật coi hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ dân sự. Mỗi hộ gia đình có sổ đăng ký hộ khẩu, ghi rõ số nhân khẩu, người chủ hộ và quan hệ của từng thành viên với chủ hộ.
Đây là hồ sơ mang tính pháp lý để chính quyền địa phương thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với gia đình (Điều 106 của Bộ Luật Dân Sự). Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản lý để nhận các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận. Hộ gia đình cũng đồng thời là người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ. Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế) có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân công lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình.
Hộ không phải là một thành phần kinh tế thống nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, nhà nước. Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế.2 Khái niệm về thu nhập 2.1 Định nghĩa thu nhập: Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm). Theo Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người trong 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.2 Định nghĩa thu nhập của hộ gia đình: Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp.
Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của Hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: thu từ tiền công, tiền lương; thu từ sản xuất nông lâm ngư nghiệp (đã trừ chi phí và thuế sản xuất); thu từ ngành nghề phi nông nghiệp (đã trừ chi phí và thuế sản xuất) và các khoản thu nhập khác (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được).3 Khái niệm chi tiêu hộ gia đình Chi tiêu của hộ gia đình bao gồm các khoản chi cho các nhu cầu ăn uống và ngoài ăn uống trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. Các khoản chi tiêu gồm: lương thực, thực phẩm, đồ uống, quần áo và giày dép, nhà ở, điện, ga, nước và nhiên liệu khác, đồ đạc, thiết bị gia đình, và bảo dưỡng thông thường, y tế, vận tải, truyền thông, giải trí và văn hóa, giáo dục, nhà hàng khách sạn, chi khác cho tiêu dùng. Chi tiêu của hộ gia đình trong kỳ không bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh, 123doc 7 thuế sản xuất kinh doanh, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ, hoàn tạm ứng và những khoản chi tương tự. Chi tiêu bình quân một người trong một tháng (1.000 đồng) bằng tổng số tiền và trị giá hiện vật trong hộ gia đình chi cho tiêu dùng bình quân một tháng chia cho tổng số nhân khẩu của hộ.
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức và cơ cấu chi tiêu của các tầng lớp dân cư để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo, làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói giảm nghèo.1 Vai trò của chi tiêu hộ gia đình: Chi tiêu hộ gia đình là thành phần quan trọng trong tổng sản phẩm quốc nội. Dựa trên cơ sở tiếp cận từ khái niệm chi tiêu, GDP của nền kinh tế được tính theo công thức: GDP= C+I+G+(X-M) Trong đó: C= Chi phí tiêu dùng cá nhân (hộ gia đình). I=Tổng đầu tư cá nhân quốc nội (tất cả các doanh nghiệp đầu tư trên lãnh thổ 1 nước). G= Chi phí tiêu dùng của Chính phủ.
X= Kim ngạch xuất khẩu các hàng hóa và dịch vụ. M= Kim ngạch nhập khẩu của hàng hóa và dịch vụ. Vì vậy muốn kích thích tăng trưởng kinh tế thì việc gia tăng chi tiêu là một đóng góp quan trọng. Chênh lệch chi tiêu giữa các hộ gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng.
Vì vậy, hạn chế sự chênh lệch này là điều hết sức cần thiết từ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.2 Hành vi quyết định chi tiêu của hộ gia đình Hành vi tiêu dùng của hộ gia đình phần lớn bắt nguồn từ quyết định mua hàng của hộ gia đình, theo đó quyết định này được thực hiện từ một hay một số cá nhân hoặc tất cả thành viên của hộ (Sheth, J. Hộ gia đình sẽ dùng phần thu nhập có được để chi tiêu cho một số hàng hóa nhằm tối đa hóa hữu dụng, trong đó giáo dục 123doc 8 được xem là hàng hóa tiêu dùng trong hiện tại và tương lai nên chi tiêu giáo dục được hộ gia đình xem xét là kênh đầu tư cho tương lai thế hệ trẻ. Một trong các phương pháp đo lường cho phân tích chi phí và lợi ích của giáo dục là số tiền tiêu dùng cho giáo dục, trong đó chi phí giáo dục của tư nhân bao gồm chi phí trực tiếp cho sách vở, học phí.và chi phí gián tiếp như thu nhập bị bỏ qua trong quá trình học, bên cạnh là lợi ích có được ở hiện tại và tương lai từ giáo dục mang lại. Như vậy, chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là một trong những hình thức tiêu dùng và đầu tư của hộ thông qua sự cân nhắc có hay không và đến mức độ nào trong tổng số tiền chi tiêu giáo dục nhằm thỏa mãn tối đa hữu dụng.4 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 2.1 Các yếu tố ảnh hƣởng đến cầu hàng hóa Cầu hàng hóa là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn lòng mua tại những mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất định.
Đường cầu hàng hóa sẽ thay đổi khi chịu tác động của những yếu tố sau: - Thu nhập là yếu tố xác định khả năng mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập gia tăng, họ sẽ sẵn lòng chi tiêu cho một loại hàng hóa- dịch vụ với số lượng nhiều hơn trước. - Sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng đại diện cho sự yêu thích, ưu tiên cho một loại hàng hóa- dịch vụ. Người tiêu dùng yêu thích một loại hàng hóa- dịch vụ nào đó càng nhiều, tiêu dùng hàng hóa- dịch vụ đó càng nhiều.
- Cầu của một loại hàng hóa- dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào giá cả của chính bản thân nó mà còn phụ thuộc vào giá cả của hàng hóa liên quan. Theo đó thì cầu của một loại hàng hóa- dịch vụ sẽ tăng khi giá cả hàng hóa thay thế cho chính hàng hóa- dịch vụ đó tăng. Ngược lại, cầu của một hàng hóa- dịch vụ sẽ giảm nếu giá cả hàng hóa- dịch vụ bổ sung cho nó tăng. - Quy mô thị trường càng lớn thì cầu của hàng hóa- dịch vụ càng nhiều.
- Những dự đoán giá cả tương lai sẽ ảnh hưởng đến cầu hàng hóa ở thời điểm hiện tại. Cầu hàng hóa- dịch vụ sẽ tăng nếu như người tiêu dùng dự đoán trong tương lai, giá cả của hàng hóa này sẽ tăng. Và ngược lại, cầu hàng hóa sẽ giảm nếu 123doc 9 người tiêu dùng dự đoán giá cả hàng hóa- dịch vụ này trong tương lai sẽ giảm hơn giá cả hiện tại.2 Vấn đề lựa chọn tiêu dùng (Mas-collet và cộng sự, 1995) Lý thuyết tiêu dùng thể hiện những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của người tiêu dùng cho các loại hàng hóa.