Chương I: Tổng quan về lưu vực sơng Đồng Nai Lưu vực sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ nhì miền Nam sau sông Mkơng. Toàn bộ diện tích lưu vực hệ thống Đồng Nai 38. Lưu vực sông Đồng Nai bắt nguồn từ một thung lũng nhỏ tại phía Bắc núi Lâm Viên và Bi-đúp. Nguồn sông chính có độ cao 1.780 m so với mực nước biển.
Sau khi chảy 50 km thì độ cao hạ thấp còn 1. Là một con sông già được vận động tạo sơn làm trẻ lại nên phần thượng nguồn chảy qua cao nguyên Đà Lạt cũng êm đềm, nhiều đoạn bị chặn lại thành hồ như: Xuân Hương, Than Thở … chứng tỏ sức xâm thực của dòng sông chưa ảnh hưởng tới bề mặt của lưu vực. Khi chảy ra rìa các sơn nguyên mới xuất hiện những thác ghềnh nổi tiếng như: Prenn; Gougha, Angkroef… Phần trung lưu phía dưới Liên Khương đến Tân Uyên dài hơn 300 km, lòng sông được mở rộng quanh co với độ dốc khoảng 1‰. Những phụ lưu chính của sông Đồng Nai hội tụ vào dòng chính cũng ở đoạn này như sông La Ngà, sông Bé.
Khi chảy tới Trị An, bậc thang thứ tám của dòng sông xuất hiện thác lớn tạo điều kiện thuận lợi cho công trình thủy điện hình thành như chúng ta đã biết hôm nay. Đoạn hạ lưu từ Tân Uyên ra đến biển dài xấp xỉ 150 km. Lòng sông rất rộng từ 1,0 – 4,5 km và độ sâu lớn nhất có nơi đạt 18 m. Chính vì vậy mà cảng Sài Gòn tuy nằm sâu trong đất liền nhưng tàu cỡ lớn vẫn ra vào thuận lợi, đồng thời đoạn này cũng hình thành một vùng cửa sông vô cùng phức tạp, kênh rạch chằng chịt.
Có thể chia ra hai phân lưu chính như sau: 9 Nhánh sông Đồng Nai – Soài Rạp. 9 Nhánh sông Lòng Tàu. 9 Sông Đồng Nai trên cơ bản chảy theo hai hướng chính: -5- PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … 9 Phía đông kinh tuyến 107 E hướng tây bắc – đông nam là chủ yếu (phần thượng lưu). 9 Phía tây kinh tuyến 107 E hướng đông bắc – tây nam chiếm ưu thế (chủ yếu là vùng trung và hạ lưu).
Đặc điểm khí tượng lưu vực sông Đồng Nai. Lưu vực sông Đồng Nai nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Chế độ nhiệt ổn định, quanh năm cao, không có mùa đông giá rét. Tháng XII và tháng I là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất nhưng cũng trên dưới 250C.
Các tháng khác trong năm, nhiệt độ biến động từ 25 ÷ 290C. Bức xạ mặt trời quanh năm dồi dào và phân bổ đều trong năm. Một năm trên lưu vực sông Đồng Nai có hai mùa nắng mưa rõ rệt. 9 Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X hoặc tháng XI.
9 Mùa khô kéo dài từ tháng XI (hoặc XII) đến tháng IV năm sau. 9 Bức xạ tổng cộng ngày: 390 ÷ 565 calo/ngày. 9 Nhiệt độ trung bình tháng: 23 ÷ 290C. 9 Tổng số ngày mưa: 100 ÷ 170 ngày.
Phân bổ lượng mưa quanh khu vực công trình thủy điện Trị An 9 Vùng rừng núi Tân Phú có lượng mưa lớn nhất. Phía bắc huyện Tân phú, nơi giáp tỉnh Lâm Đồng, được xem như tâm mưa lớn nhất Đông Nam Bộ, lượng mưa năm xấp xỉ 3000mm. Toàn bộ vùng đầu nguồn hồ Trị An có số ngày mưa từ 150÷160 ngày/năm. 9 Vùng thung lũng sông La Ngà huyện Vĩnh Cửu, một phần huyện Thống Nhất và phần huyện Xuân Lộc có tổng lượng mưa từ 2000÷2500mm, số ngày mưa trong năm từ 130÷150 ngày.
-6- PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … 9 Vùng có lượng mưa 1500÷2000mm/năm chiếm gần ½ tổng diện tích tỉnh Đồng Nai bao gồm: thành phố Biên Hòa, huyện Long Thành, phía nam huyện Thống Nhất, phía đông Xuân Lộc và Long Khánh. Số ngày mưa trong năm từ 100÷130 ngày. Lượng mưa năm ứng với P = 75% các vùng trong lưu vực: + Tà Lài 2500mm + Xuân Lộc 1770mm + Tân Phú 2360mm + Tân Định 1680mm + Túc Trưng 2100mm + Thống Nhất 1600mm + Trị An 2000mm + Biên Hòa 1500mm -7- PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … II. Chế độ dòng chảy trên lưu vực.
Sông Đồng Nai là một trong ba con sông lớn của nước ta. Nó đứng hàng thứ ba sau sông Mekong và sông Hồng. Về modyl dòng chảy thì sông Đồng Nai có modyl dòng chảy tương đối lớn so với các sông khác: 9 M0 Đồng Nai = 40 lít/sec km2 9 M0 Sông Bé = 30 ÷ 40 9 M0 Sài Gòn = 20 ÷ 30 9 M0 Vàm Cỏ Đông = 20 ÷25 Điều đó chứng tỏ tổn thất lưu vực trên lưu vực không lớn, hệ số bốc hơi không cao, hệ số dòng chảy lớn, khả năng điều tiết của lưu vực khá lớn. Dòng chảy ngầm đạt một tỷ lệ tương đối lớn (21%) trong tổng lượng dòng chảy.
Chênh lệch dòng chảy giữa vùng nhiều nước và vùng ít nước khoảng từ 2 đến 3 lần. Chênh lệch giữa mùa cạn và mùa lũ từ 50 ÷ 60 lần. Hệ số Cv = 0,2÷0,4. Mùa cạn Mùa cạn kéo dài từ tháng XII năm trước đến tháng VI năm sau.
Lượng nước mùa cạn xấp xỉ 20% lượng nước cả năm (Trị An 19%, Tà Lài 19%, La Buông 20%, Sông Ray 21%). Tháng có lượng nước nhỏ nhất là các tháng II, III, IV chỉ đạt từ 2,5÷2,7% lưu lượng trung bình năm. Các giá trị đặc trưng về lưu lượng. Lưu lượng nhỏ nhất lịch sử xuất hiện tại: 9 Trị An : Qmin = 21,3 m3/sec ngày 11 – IV – 1978 9 Tà Lài : Qmin = 21,9 m3/sec ngày 30 – III – 1984 9 Sông Xoài : Qmin = 0,7 m3/sec ngày 11 – V – 1982 -8- PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … Ảnh: Sơ đồ vị trí các công trình Thủy điện.
trên lưu vực Đồng Nai Baûng I-1 : Löu löôïng trung bình thaùng muøa khoâ taïi Bieân Hoøa Thang I II III IV Q m3/s 140 ÷ 160 100 ÷ 120 50 ÷ 60 60 ÷ 70 -9- PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … Bảng 2: Lưu lượng nước lưu vực sông Đồng Nai Dòng chảy Diện Dòng chảy năm trung bình nhiều tích lưu ứng với các tần suất Tên sông năm vực 2 Q W. - 11 - PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … 2. Mùa lũ Bảng I-5 : Lưu lượng lớn nhất và tổng lượng lũ sông Đồng Nai (trạm Cây Gáo): F = km2 Lưu lượng lũ Qp = m3/sec Tổng lượng lũ Wp = 109 m3 0,1% 1% 5% 10% 0,1% 1% 5% 10% 15375 km2 21000 13800 8800 6700 19,25 12,67 8,04 6,16 Lưu lượng nhỏ nhất trên sông Đồng Nai xuất hiện vào cuối mùa khô từ tháng IV – V. Lưu lượng nhỏ nhất đo được tại trạm Cây Gáo là 19 ÷ 20 m3/sec (xuất hiện vào tháng IV) và tại Biên Hòa (dưới nhập lưu Sông Bé) là Qmin = 25 m3/sec.
Qua tính toán tại trạm Cây Gáo: Qmin tháng ứng với P = 75% là 26,6 m3/sec P = 95% là 19,6 m3/sec Bảng I-6 : Các giá trị Qmax (trạm Trị An) và Hmax (trạm Nhà Bè, Phú An) VI VII VII IX X Tháng Max Min Max Min Max Min Max Min Max Min Lưu lượng Q: Trị An: Q 925 230 1667 426 2840 992 2638 1012 1828 738 Thời điểm (ngày) 30 2 30 26 22 2 2 23 14 21 Mực nước H: Nhà Bè: H 94 48 95 45 111 56 124 68 137 81 Thời điểm (ngày) Dương lịch: 10 20 31 25 28 22 26 26 25 2 Âm lịch: 12/5 22/5 4/7 27/6 2/8 26/7 2/9 2/9 2/10 8/9 Các đặc trưng dòng chảy sông Đồng Nai trên tuyến công trình thủy điện Trị an. 9 Lưu lượng bình quân nhiều năm Q0 = 477 m3/sec - 12 - PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … 9 Modyl dòng chảy bình quân nhiều năm M0 = 327 lít/sec.km2 9 Tổng lượng dòng chảy bình quân năm W0 = 15,05 x 109 m3 9 Hệ số biến động dòng chảy năm Cv = 0,22 9 Lưu lượng bình quân mùa lũ (VII-XI)QL = 949 m3/sec 9 Tổng lượng dòng chảy bình quân mùa lũ WL= 12,55 x 109 m3= 83% W0 9 Hệ số biến động dòng chảy lũ CVL= 0,21 9 Lưu lượng bình quân mùa kiệt (XII-VI)QK = 2,05 x 109 m3 9 Hệ số biến động dòng chảy mùa kiệt CVK= 0,38 9 Lưu lượng bình quân mùa chuyển tiếp (I-IV)Q* = 80,4 m3/sec 9 Tổng lượng dòng chảy mùa chuyển tiếp W* = 1,09 x 109 m3 9 Hệ số biến động dòng chảy mùa chuyển tiếp CV* = 0,33 III. Những nét cơ bản về chế độ thủy văn vùng cửa sông Soài Rạp, Gành Rái, Vũng Tàu Sông ngòi đổ ra vịnh Đồng Tranh, Gành Rái, Cần Giờ … xuất hiện cách đây hàng mấy chục triệu năm trong thời kỳ tân kiến tạo, nhưng con người xây dựng nên khu kinh tế Bà Rịa-Vũng Tàu thì chỉ mới bắt đầu cách đây hơn 200 năm. Bà Rịa hình thành dưới thời Tây Sơn 1778-1802, Vũng Tàu hình thành từ đầu thế kỷ XVII.
Hơn 200 năm ấy con người và thiên nhiên đã biến vùng cửa sông Đồng Nai – Vũng Tàu thành một vị trí vô cùng quan trọng không chỉ riêng về mặt thủy lý mà nó còn là của ngõ quan trọng trong toàn bộ lưu vực thuộc hệ thống sông Đồng Nai – La Ngà – Sông Bé – Vàm Cỏ … bao gồm một diện tích rộng lớn hơn 33. - 13 - PGS-TS Hoàng Hưng - Tác động môi trường các công trình Thủy lợi – Thủy điện … Ảnh: Chiều về trên sông Đồng Nai Hàng năm các con sông này đã đổ ra biển qua vịnh Đồng Tranh – Gành Rái – Cần Giờ… hơn 30 tỉ khối nước và hàng triệu tấn phù sa. Nơi đây luôn xảy ra sự tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển cả, nơi thường xuyên xảy ra 2 quá trình ngược nhau: bồi tụ và xói lở, nhưng cũng chính nơi đây lại rất giàu có về nguồn lợi sinh học, về tài nguyên khoáng sản… Cuộc sống vô cùng sôi động bởi hoạt động của con người trong việc khai thác tiềm năng thiên nhiên không những ở ngọn nguồn các dòng sông mà ngay cả 2 bờ sông, vùng cửa sông cho đến thềm lục địa… Tác động của con người đã làm cho những dòng sông tự nhiên và môi trường ở đây đã ngày càng thay đổi không ngừng mà xu thế tất yếu là làm xấu đi trạng thái ban đầu của nó.