Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HOÁ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA 1. Khái niệm hiện tượng đô la hóa Hiện tượng đô la hoá cao trong nền kinh tế có thể xem như hậu quả của sự thiếu lòng tin của các chủ thể kinh tế vào nội tệ trong việc thực hiện các chức năng của tiền tệ. Hầu hết sự mất lòng tin này bắt nguồn từ những bất ổn, biến động của các chỉ số lãi suất, làm phát, tỷ giá điều này ảnh hưởng đến tài sản, lợi ích của các chủ thể kinh tế.
Do vậy, họ lựa chọn sử dụng ngoại tệ như một phương án thay thế các chức năng đồng nội tệ bị mất lòng tin. Hiện tượng đô la hóa tăng lên khi các chủ thể kinh tế gia tăng sử dụng ngoại tệ thay thế các chức năng của đồng nội tệ trong các hoạt động giao dịch, cất trữ tài sản. Khái niệm đô la hoá được định nghĩa như sau: §« la ho¸ lµ hiÖn t-îng kinh tÕ, trong ®ã ®ång USD hoÆc c¸c ngo¹i tÖ m¹nh kh¸c ®-îc sö dông réng r·i trong c¸c ho¹t ®éng kinh tÕ cña mét nÒn kinh tÕ thay cho ®ång b¶n tÖ trong mét sè hay toµn bé chøc n¨ng tiÒn tÖ. Nền kinh tế sử dụng ngoại tệ thay thế một cách rộng rãi chức năng của đồng nội tệ thì gọi là nền kinh tế bị đô la hoá cao, theo IMF các nền kinh tế có tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30% được xem là nền kinh tế bị đô la hóa cao.
NHNN định nghĩa nền kinh tế bị đô la hóa như sau: “Tiền tệ có 3 chức năng là: Dự trữ giá trị; phương tiện thanh toán và đơn vị tính toán. Nền kinh tế bị “đô la hoá” là nền kinh tế có các đồng ngoại tệ được sử dụng rộng rãi thay thế cho một hay nhiều chức năng của đồng nội tệ” [18]. Khái niệm đô la hoá trong nghiên cứu này được sử dụng thay cho thuật ngữ ngoại tệ hoá. Thuật ngữ “đô la hoá” thường được sử dụng phổ biến ở trên thế giới có ý nghĩa tương đương thuật ngữ “ngoại tệ hoá” do đồng đô la là đồng tiền xuất hiện phổ biến với số lượng lớn trong hầu hết các nền kinh tế bị ngoại tệ hoá.
Phân loại đô la hóa Đô la hoá được phân loại theo nhiều tiêu thức: Trên phương diện luật pháp đô la hoá được phân chia thành đô la hoá chính thức, đô la hoá không chính thức ngoài ra một số quốc gia cho phép tình trạng đô la hóa bán chính thức trong nền kinh tế Đô la hoá chính thức: Thường gọi là “đô la hoá toàn phần” xuất hiện khi đồng ngoại tệ là đồng tiền chính thức, hợp pháp được lưu hành. Đồng ngoại tệ không chỉ sử dụng hợp pháp trong các giao dịch tư nhân mà còn hợp pháp trong cả các thanh toán của Chính phủ. Còn đồng nội tệ tồn tại chỉ đóng vai trò thứ yếu và chỉ có các đồng tiền xu hay đồng tiền có mệnh giá nhỏ. Các quốc gia áp dụng hiện tượng đô la hóa chính thức thường là các quốc gia nhỏ, các quốc gia phụ thuộc kinh tế, chính trị, văn hóa với các nước phát hành tiền.
Danh sách các quốc gia sử dụng ngoại tệ là đồng tiền chính thức năm 2002 được liệt kê trong phụ lục số 1 của luận văn. Đô la hoá không chính thức xuất hiện khi người cư trú nắm giữ ngoại tệ hoặc tài sản tài chính dưới dạng tài sản ở nước ngoài không được sự thừa nhận của pháp luật. Thuật ngữ đô la hoá không chính thức bao hàm cả trường hợp nắm giữ tài sản nước ngoài hợp pháp và bất hợp pháp. Đô la hoá không chính thức bao gồm việc nắm giữ các tài sản sau: - Chứng khoán ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài.
- Tiền gửi ở nước ngoài - Các khoản tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước - Ngoại tệ, giấy tờ có giá trị bằng ngoại tệ nắm giữ - Ngoại tệ trong lưu thông Theo Conies Mack [34, tr.2] phân chia đô la hoá không chính thức thành 3 cấp độ dựa trên chức năng chính của tiền tệ bao gồm: Cất trữ giá trị, phương tiện thanh toán, đơn vị kế toán Cấp độ 1: Ở cấp độ này, người dân giữ trái phiếu ngoại tệ và các khoản tiền gửi ở nước ngoài với mục đích cất giữ tài sản. Động cơ cất trữ này đề phòng những rủi ro về giảm giá trị do lạm phát trong nước hoặc quốc hữu hoá tài sản. Cấp độ 2: Người dân nắm giữ số lượng lớn ngoại tệ tại các tài khoản tiền gửi (nếu được cho phép), giấy tờ có giá bằng ngoại tệ sử dụng cả với mục đích thanh toán và 6 cất trữ giá trị. Lương và các khoản thu nhập vẫn được thanh toán bằng nội tệ nhưng các hàng hoá đắt tiền như ô tô, nhà cửa thường được thanh toán bằng ngoại tệ.
Cấp độ 3: Ở cấp độ này, giá cả hàng hoá được tính bằng nội tệ tuy nhiên mọi người đều tính giá ngoại tệ thông qua tỷ giá hối đoái. Lúc này giá cả bằng nội tệ chỉ đóng vai trò như chỉ số chuyển đổi ra ngoại tệ cùng với tỷ giá hối đoái. Đô la hoá không chính thức phổ biến ở nhiều nước đang phát triển, theo thống kê của IMF có khoảng 52 quốc gia có mức độ đô la hoá không chính thức cao năm 2000 trong đó có Việt Nam. Đô la hoá bán chính thức: Diễn ra ở các quốc gia cho phép lưu hành chính thức hai hay nhiều đồng tiền, ở các nước này đồng ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thấp hơn trong việc thanh toán lương, thuế và chi tiêu hàng ngày của dân cư.
Không giống các nước có đô la hoá chính thức, các nước đô la hoá bán chính thức vẫn duy trì NHTƯ hoặc các cơ quan tương đương để điều hành chính sách tiền tệ. Tiêu chí đánh giá mức độ đô la hóa Các học giả, các tổ chức tài chính quốc tế như : Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB) thường sử dụng tỷ số tiền gửi ngoại tệ/M2 (TGNT/M2) để đánh giá mức độ đô la hóa của nền kinh tế. Theo IMF khi nền kinh tế có tỷ lệ TGNT/M2 lớn hơn 30% thì nền kinh tế có hiện tượng đô la hóa cao. Trên 19% là nền kinh tế có mức độ đô la hóa vừa phải và dưới 19% là nền kinh tế có mức độ đô la hóa thấp.
Theo IMF năm 1998 có 19 quốc gia có tỷ lệ đô la hóa tài khoản tiền gửi ở mức cao trên 30% M2 và 35 quốc gia có mức độ đô la hóa vừa phải với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ bình quân khoảng 16. Ngoài tiêu chí TGNT/M2, một số tác giả còn sử dụng tỷ số tiền gửi ngoại tệ/tổng tiền gửi (TGNT/TTG) để đánh giá hành vi cơ cấu danh mục tiền gửi của các chủ thể kinh tế. Nếu tỷ trọng này gia tăng qua các năm có nghĩa các chủ thể kinh tế đang tăng cường nắm giữ ngoại tệ và ngược lại. Khi nền kinh tế có tốc độ cơ cấu danh mục tiền gửi sang ngoại tệ nhanh, mạnh làm chỉ tiêu TGNT/TTG tăng nhanh chứng tỏ sự tin tưởng, vị thế của đồng nội tệ bị suy giảm và ngược lại.
Nguồn gốc của hiện tượng đô la hoá Hiện tượng đô la hoá thường xuất hiện mọi quốc gia trên toàn cầu, tuy nhiên 7 đô la hoá ở mức độ cao chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển, các nước châu Mỹ La tinh và các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Tại các quốc gia này, đồng nội tệ yếu lòng tin của dân chúng vào đồng nội tệ thấp, tỷ giá hối đoái bất ổn và tỷ lệ lạm phát cao. Trong nền kinh tế có mức độ đô la hoá cao, hiện tượng đô la hoá diễn ra với mọi chủ thể của hệ thống tài chính do các nguyên nhân chủ yếu sau: 1. Khác biệt giữa lý thuyết thị trường hoàn hảo và thực tiễn Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo lý thuyết, ngang giá lãi suất được duy trì thì việc đầu tư, vay vốn, tích trữ bằng bất kỳ đồng tiền nào cũng mang lại lợi ích như nhau và quá trình đô la hoá không xảy ra.
Trong thực tế, sự lựa chọn đồng tiền gửi ngân hàng, đầu tư, cho vay phụ thuộc vào dòng tiền dự kiến (kỳ vọng) trọng tương lai, mỗi chủ thể kinh tế sẽ không đồng nhất trong tiếp cận thông tin và có những dự báo các chỉ số về tỷ giá, lạm phát tương lai khác nhau, điều này dẫn đến hành vi lựa chọn đồng tiền đầu tư, tiền gửi ngân hàng, cho vay nhằm tối đa hoá lợi ích dự tính trong tương lai. Do vậy, ở nhiều quốc gia có sự bất ổn về lạm phát, tỷ giá, lãi suất, quá trình đô la hoá diễn ra rất mạnh mẽ, về mặt học thuật điều này có thể giải thích về do: Thứ nhất, những hạn chế về thị trường tài chính Trong thực tế do các nhân tố thị trường không phản ứng nhanh như trên lý thuyết, cân bằng Fisher ít khi xẩy ra một cách chuẩn xác. Do vậy, tạo ra sự kỳ vọng về chênh lệch lãi suất khi đầu tư vào các đồng tiền khác nhau, đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến quá trình đô la hoá bùng nổ ở nhiều quốc gia. Tại các quốc gia này, sự yếu kém của đồng nội tệ, của hệ thống tài chính và thị trường tài chính cùng với nguyên nhân lạm phát tăng cao dẫn đến sự mất lòng tin vào đồng nội tệ.
Thông tin trên thị trường tài chính cũng không hoàn hảo như thông tin trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo do vậy, kỳ vọng trong tương lai của những nhà đầu tư và cho vay vào lợi nhuận của đồng ngoại tệ là khác nhau dẫn đến hành vi đầu tư khác nhau. Đặc biệt đối với các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao, thị trường tài chính kém phát triển, càng khó tạo ra sự cân bằng trong hiệu ứng Fisher.