Chương 1 của luận văn mang lại cái nhìn tổng quát nhất về đề tài nghiên cứu bao gồm: mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Đồng thời nêu lên ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu. Cuối cùng, tại chương này sẽ trình bày tổng quan cấu trúc của luận văn. Thông qua việc thiết lập các mục tiêu từ tổng quát đến cụ thể, tác giả sẽ lần lượt tiếp cận các cơ sở lý thuyết về đầu tư CNTT, năng lực cạnh tranh của NHTM và tác động của đầu tư CNTT đến năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong chương 2.1 Cơ sở lý luận về đầu tư CNTT của NHTM 2.1 Công nghệ thông tin trong NHTM 2.1 Khái niệm công nghệ thông tin Ngày nay, Information technology (IT) – Công nghệ thông tin (CNTT) đã trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại.
Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa thật sự hiểu rõ ý nghĩa của thuật ngữ này. Tại Việt Nam, căn cứ luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006 do Quốc Hội ban hành đưa ra định nghĩa: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số". Luật công nghệ thông tin năm 2006 nhấn mạnh : “Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” Theo TS Nguyễn Thị Kim Thanh (2020), “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Qua những định nghĩa trên, có thể hiểu CNTT bao gồm các kỹ thuật phần cứng, phần mềm, dữ liệu, mạng máy tính và viễn thông được sử dụng để xử lý thông tin.
Có thể khẳng định ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh là việc sử dụng công nghệ thông tin phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp nhằm khai thác tối đa nguồn lực và tối ưu hoá hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại lợi ích cao nhất.2 Vai trò của CNTT đối với NHTM Số hóa trong ngành ngân hàng là xu hướng tất yếu để các ngân hàng tồn tại và phát triển trong thời đại mới trước sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự 7 lớn mạnh của Fintech.Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường tiềm năng để ngân hàng số phát triển với nhiều yếu tố thuận lợi như nền kinh tế đang phát triển, dân số trẻ so với khu vực, có tốc độ tăng trưởng internet cao, thanh toán không dùng tiền mặt và tiềm năng phát triển ngân hàng bán lẻ rất lớn. Do đó CNTT có vai trò rất quan trong đối với các NHTM Việt Nam. Cụ thể như sau: Đối với hoạt động quản trị: CNTT giúp NHTM quản trị dữ liệu tập trung. Hạ tầng CNTT cũng đã được triển khai đồng bộ, hiện đại, kết nối trực tuyến thông suốt từ trụ sở chính đến các chi nhánh nhỏ và được triển khai trên toàn quốc.
Trụ sở chính có thể quản lý, giám sát, kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro hoạt động nghiệp vụ toàn hệ thống thông qua ứng dựng quản lý hoạt động ngân hàng. Với các chương trình thanh toán có ứng dụng hàm lượng công nghệ cao và đa dạng tiện ích đã giúp trụ sở chính quản lý được các dữ liệu chuyển tiền của toàn hệ thống, thuận tiện trong kiểm soát và xử lý tự động, hạn chế nhiều tác nghiệp thủ công và hậu kiểm; giúp điều chỉnh sai sót, tận dụng tối đa thông tin chuyển tiền của chi nhánh, kịp thời thực hiện các báo cáo định kỳ, đột xuất thông qua các dữ liệu được lưu tự động rút ngắn đáng kể thời gian tìm kiếm. Tự động hóa và quản lý các thông tin nhân sự ngân hàng; triển khai giải pháp quản lý tài sản Nợ và Có bằng nguồn lực nội bộ. Đối với các hoạt động tín dụng: CNTT giúp NHTM quản lý tập trung và bảo mật hệ thống đánh giá và xếp hạng tín dụng của khách hàng; tự động hóa quy trình tín dụng cá nhân dưới dạng số hóa toàn bộ quy trình tín dụng bán lẻ: từ bước tiếp xúc, tiếp nhận thông tin nhu cầu của khách hàng tại các đơn vị bán cho đến khi hồ sơ được phê duyệt, giải ngân, quản lý hồ sơ sau giải ngân.
Giúp cho các NHTM có thể theo dõi trạng thái xử lý hồ sơ trực tuyến, giảm thiểu mất mát, sai sót thông tin do trao đổi thông tin qua các kênh như email, điện thoại, hay chuyển hồ sơ vật lý. Ứng dụng CNTT đã triển khai quản lý rủi ro tín dụng, hệ thống Quản lý Tài sản đảm bảo và Hạn mức tín dụng Smart Lender (CLIMS) với mục đích cải thiện hệ thống quản trị. Bên cạnh đó, NHTM cũng đã tăng cường hệ thống Giám sát an ninh doanh nghiệp (ESM); hệ thống giám sát ứng dụng tập trung (CAM); hệ thống Quản lý nội dung doanh nghiệp (ECM). 8 Đối với hoạt động thanh toán: CNTT đã giúp cho hoạt động thanh toán điện tử tại Việt Nam phát triển nhanh, đã bắt kịp xu hướng thế giới, gia tăng tỷ lệ sử dụng thẻ, thói quen sử dụng thanh toán trực tuyến đã dần trở nên phổ biến góp phần tăng độ an toàn, bảo mật và được tích hợp đa tiện ích, thêm nhiều tính năng để sử dụng thanh toán hóa đơn.
Một số ngân hàng triển khai hiệu quả các dịch vụ thanh toán hiện đại về điện, nước, cước viễn thông, học phí. NHTM đã triển khai thành công việc sử dụng ngân hàng trực tuyến trên nhiều thiết bị khác nhau bên cạnh máy tính cố định như: iPad, iPhone, và trên nhiều trình duyệt Internet Explorer, Safari, Firefox. Dịch vụ chuyển tiền quốc tế (CTQT) của NHTM cũng mở rộng trên nền CNTT phát triển, cung cấp dịch vụ CTQT cho tất cả các đối tượng khách hàng và có quan hệ với định chế tài chính trên khắp thế giới.2 Đầu tư CNTT của NHTM Nhận thấy được tầm quan trọng của CNTT trong hoạt động ngân hàng, các NHTM Việt Nam đã và đang xây dựng được một cơ sở hạ tầng CNTT hiện đại theo mô hình tập trung hóa tài khoản, các tiện ích ngân hàng đã được sử dụng rộng rãi nhắm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập với khu vực và thế giới. Theo các khảo sát gần đây của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực cho thấy: Ngành Ngân hàng được xem là một trong những ngành ứng dụng CNTT nhiều và sâu rộng nhất: 98% các chi nhánh đã tham gia kết nối mạng WAN, 96% ngân hàng đã có hệ thống đảm bảo an ninh mạng, 92% ngân hàng có chính sách quản lý rủi ro dựa trên nền tảng CNTT.
Một số NHTM đã ứng dụng CNTT để tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị nội bộ thông qua phát triển CNTT. Tuy nhiên, các thống kê gần đây về mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT trong hệ thống ngân hàng Việt Nam cho thấy kết quả không mấy khả quan. Ngoài chỉ tiêu 100% các NHTM đã triển khai hệ thống Core banking thì các chỉ tiêu khác phản ánh khả năng ứng dụng CNTT như quản lý rủi ro chỉ đạt 59,4%, hay chỉ 43,8% ngân hàng đạt chứng chỉ về an toàn thông tin, triển khai hệ thống CRM (Customer Relationship Management) chỉ đạt 53,1%, còn ERP chỉ 50%. 9 Sự cần thiết phải nâng cấp hệ thống Core banking là nhu cầu đặt ra đối với nhiều NHTM Việt Nam hiện nay nhằm gia tăng tỷ lệ tự động hóa, rút ngắn thời gian thực hiện các giao dịch, mở rộng dịch vụ, mạng lưới, cũng như ghi nhận ngày càng chi tiết các thông tin liên quan đến giao dịch của khách hàng cho mục đích quản trị, điều hành.
Những năm trở lại đây, nhiều NHTM đã phải nâng cấp hệ thống Core banking của mình nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển như ACB, TCB (2014), MSB (2016), LVPB, Vietinbank (2017), SCB, Sacombank, ABBank, EIB (2018)… Đầu tư vào hệ thống bảo mật cũng là một xu hướng bắt buộc của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, phù hợp với xu hướng mà Capgemini (2016) đã chỉ ra, đặc biệt là với hoạt động thẻ, thanh toán trực tuyến. Ngày 31/3/2017, NHNN đã có Quyết định số 630/QĐ-NHNN về việc áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng, trong đó từ 01/01/2019 các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán trên mạng Internet phải triển khai áp dụng các giải pháp xác thực bảo đảm an toàn tùy theo hạn mức giao dịch, những giao dịch lớn hơn 100 triệu đồng đã phải dùng các biện pháp có bảo mật cao như Soft OTP (là phần mềm được cài đặt trên các thiết bị như điện thoại di động, máy tính bảng, máy vi tính, để cung cấp mật khẩu sử dụng một lần khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến), xác thực bằng dấu hiệu nhận dạng sinh trắc học… Đầu tư vào công nghệ sổ cái (General Ledger - GL) cũng được một số NHTM Việt Nam triển khai như LVPB, Vietinbank, SCB, ACB…nhằm ghi nhận một cách chi tiết các giao dịch (các chiều đơn vị, tài khoản, khách hàng, sản phẩm, phòng ban…) phục vụ cho mục tiêu phân tích đa chiều hiệu quả, thu nhập, chi phí, lợi nhuận… theo yêu cầu quản trị, điều hành. Đầu tư vào hệ thống này, dữ liệu của hệ thống ngân hàng sẽ được ghi nhận một cách chi tiết theo các chiều mà ngân hàng mong muốn, từ đó xây dựng hệ thống báo cáo quản trị đa chiều, chi tiết đến từng sản phẩm, là cơ sở quan trọng để ban lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định mang tính chính xác cao.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM 2.1 Khái niệm cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh ra đời từ khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện vì nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa.