Chương 1 trình bày những vấn đề chung về nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu; mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên, những đóng góp của nghiên cứu và kết cấu dề tài nghiên cứu. Thông qua chương này, người đọc sẽ hình dung tổng quát về đề tài nghiên cứu. - Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương 2 giải thích khái niệm, cách đo lường đa dạng hóa thu nhập, đo lường tỷ suất sinh lời và giới thiệu một số lý thuyết liên quan đa dạng hóa thu nhập và tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Chương này cũng lược khảo các nghiên cứu trước liên 5 quan đến đề tài về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến tỷ suất sinh lời ngân hàng.
- Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dựa trên cở sở lý thuyết chương 2, chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu, giải thích cách đo lường các biến nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu đã sử dụng nhằm thu được kết quả phù hợp với mục tiêu đề ra. - Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 4 thực hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình, thực hiện các kiểm định mô hình nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình và phân tích tác động của các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng.Từ kết quả đó đưa ra mô hình hồi quy phù hợp thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố kinh tế vĩ mô và tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần. - Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH Chương 5 trình bày kết luận rút ra từ nghiên cứu và gợi ý một số giải pháp, chính sách để các NHTM Việt Nam thực hiện tăng đa dạng hóa thu nhập và tăng tỷ suất sinh lời. Ngoài ra, chương 5 cũng trình bày hạn chế của nghiên cứu này và hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến chủ đề này.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2.1 Cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng 2.1 Khái niệm đa dạng hóa thu nhập ngân hàng Theo Markowitz (1952), đa dạng hóa là ý tưởng trong đó tiền được nhà đầu tư phân bổ vào nhiều loại đầu tư khác nhau. Trong khi một lĩnh vực bị sụt giảm và lĩnh vực khác tăng trường thì đa dạng hóa trong đầu tư giúp giảm thiểu rủi ro của nhà đầu tư. (1957), thuật ngữ đa dạng hóa thường được gắn liền với sự thay đổi những đặc điểm dòng sản phẩm của công ty hoặc thị trường, trái ngược với sự thâm nhập thị trường, phát triển thị trường hay phát triển sản phẩm, đa dạng hóa đại diện cho sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm. Đối với doanh nghiệp nói chung, đa dạng hóa là việc mà một công ty mở rộng kinh doanh cốt lõi của mình vào thị trường sản phẩm khác.
Các doanh nghiệp đa dạng hóa khi mong muốn kinh doanh đồng thời từ hai lĩnh vực khác nhau trở lên. Trong ngành ngân hàng, đa dạng hóa xảy ra khi các ngân hàng mở rộng thị trường sản phẩm dịch vụ khác hoặc lĩnh vực kinh doanh như bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán, … không tập trung vào việc kinh doanh cốt lõi của mình là thu nhập từ lãi. Các tài liệu nghiên cứu về đa dạng hóa ngân hàng phân tích lợi ích và hạn chế của chiến lược phát triển theo các loại hình đa dạng hóa. Đa dạng hóa có thể làm tăng hiệu suất qua việc tiết kiệm chi phí và đảy mạnh doanh thu nhờ việc kết hợp các dịch vụ tài chính (Llewellyn, 1996; Teece, 1980).
Hay ngược lại đa dạng hóa làm cho tỷ suất sinh lời ngân hàng giảm sút, rủi ro tín dụng tăng khi gặp vấn đề 7 về quy mô hay quản lý … (De Young và Roland, 2001; Lepetit và cộng sự, 2008; Stiroh, 2004) Theo Elsas và cộng sự (2010), các NHTM thường đa dạng hóa thu nhập bằng cách chuyển sang các hoạt động thu phí từ các hoạt động kinh doanh truyền thống như tiền gửi và tiền vay để thu lãi; sau đó các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phi truyền thống khác như hoạt động đầu tư trên cơ sở thu nhập từ phí ổn định để gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động. Như vậy, đa dạng hóa thu nhập ngân hàng chính là sự tăng thêm nguồn thu nhập ngoài lãi phát triển mảng kinh doanh phi truyền thống hay các sản phẩm tài chính của ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, dịch vụ thẻ, mua bán ngoại tê, thanh toán xuất nhập khẩu, môi giới đầu tư chứng khoán, hoa hồng đại lý, ngân hàng điện tử, … hay nói cách khác ngân hàng phân chia giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng thay vì tập trung vào hoạt động kinh doanh truyền thống để đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng.2 Phương pháp đo lường đa dạng hóa thu nhập Theo Asif và Akhter (2019), đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng chủ yếu được đo lường thông qua tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và chỉ số Herfindahl Hirschman. Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Thu nhập của ngân hàng chia thành 2 loại thu nhập chính là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi (Gurbuz và cộng sự 2013). Theo nghị định 93/2017/NĐ-CP và thông tư 16/2018/TT-BTC, thu nhập ngân hàng là những khoản thu được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (trừ cổ phiếu), thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác.
Trong đó, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự là các khoản thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, 8 thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu lãi cho thuê tài chính, thu lãi từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu khác từ hoạt động tín dụng. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ là các hoạt động thu từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, hoạt động dịch vụ khác. Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng là thu từ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng, thu lãi chênh lệch tỷ giá, thu từ công cụ tài chính phái sinh tiền tệ. Thu nhập ngoài lãi bao gồm thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác.
Theo Lepetit và cộng sự (2008), Gurbuz và cộng sự (2013), các nghiên cứu tính thu nhập ngân hàng trên cơ sở thuần vì trên báo cáo tài chính của các ngân hàng, các hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối được trình bày trên cơ sở thuần. Cụ thể, tổng thu nhập thuần bằng tổng tổng thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi thuần, trong đó, thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, thu nhập ngoài lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập ngoài lãi và chi phí ngoài lãi. Thu nhập lãi thuần = Thu nhập lãi – Chi phí lãi Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi = Thu nhập thuần từ dịch vụ + Thu nhập thuần từ kinh doanh đầu tư + Thu nhập thuần khác Tổng thu nhập thuần = Thu nhập lãi thuần + Thu nhập thuần ngoài lãi Trên báo cáo tài chính của NHTM Việt Nam, tổng thu nhập thuần của ngân hàng bao gồm thu nhập lãi thuần, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ, thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, thu nhập thuần từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần. Do đó, thu nhập ngoài lãi thuần của các NHTM Việt Nam trong bài nghiên cứu này được tính như sau: 9 Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ + Thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + Thu nhập thuần từ hoạt động khác + Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần.
Ngoài ra, để đo lường đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng, các nghiên cứu liên quan như Stiroh (2004b), Lepetit và cộng sự (2008), Lee và cộng sự (2014), Batten và Vo (2016), Moudud-UlHud (2018) sử dụng tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần của ngân hàng. Tỷ lệ này được tính như sau: Thu nhập thuần ngoài lãi NON = Tổng thu nhập thuần Giả thiết rằng các khoản thu nhập thuần đều dương thì tỷ lệ NON có giá trị từ 0 đến 1. Giá trị của NON càng cao thì đa dạng hóa thu nhập càng cao. Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman Để đo lường mức độ tập trung của các nguồn thu nhập của ngân hàng cụ thể đo lường sự thay đổi giữa thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi, chỉ số Herfindahl Hirschman được sử dụng.
Theo nghiên cứu của Sanya và Wolf (2011), Gurbuz và cộng sự (2013), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), chỉ số đa dạng hóa thu nhập được tính toán như sau: HHI = (INT2 + NON2) NET INT = : Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập thuần NETOP NII NON = : Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần NETOP Trong đó: Thu nhập lãi thuần (NET) = Thu nhập lãi – Chi phí lãi Thu nhập thuần ngoài lãi (NII) = Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi = Thu nhập thuần từ dịch vụ + Thu nhập thuần từ kinh doanh đầu tư +Thu nhập thuần khác 10 Tổng thu nhập thuần = Thu nhập lãi thuần + Thu nhập thuần ngoài lãi Giả thiết các khoản thu nhập thuần đều dương thì HHI có giá trị từ 0. Khi HHI có giá trị bằng 0.5 nghĩa là đa dạng hóa hoàn toàn mà tại đó đem lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng, khi HHI bằng 1 nghĩa là mức thấp nhất của đa dạng hóa thu nhập.