-1- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH HOÀNG THỊ PHƢƠNG ANH TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TP.Hồ Chí Minh - 2012 123doc -2- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH HOÀNG THỊ PHƢƠNG ANH TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT TP.Hồ Chí Minh - 2012 123doc -3- LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động của đa dạng hóa đến giá trị doanh nghiệp - nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Phan Thị Bích Nguyệt là công trình nghiên cứu nghiêm túc và được đầu tư kỹ lưỡng của tôi. Các số liệu và nội dung trong luận văn là hoàn toàn trung thực và đáng tin cậy.
Tác giả Hoàng Thị Phƣơng Anh 123doc -4- DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Những nghiên cứu thực nghiệm chính và kết quả mà các tác giả tìm được trong bài nghiên cứu Bảng 3.1: Sự phân bổ các mẫu quan sát của các công ty theo năm của các công ty đơn ngành và công ty đa ngành Bảng 3.2: Danh sách phân ngành của HOSE theo định nghĩa của VSIC 2007 Bảng 3.3: Thống kê mô tả một số biến chính về đặc điểm tài chính của doanh nghiệp trong mẫu Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến Bảng 4.2: Thống kê mô tả mức độ đa dạng hóa Bảng 4.3: Thông kê mô tả giữa các nhóm công ty đến ROA và TobinQ Bảng 4.4: Kết quả hồi quy theo TobinQ Bảng 4.5: Kết quả hồi quy theo ROA Bảng 4.6: Kết quả hồi quy về mức độ đa dạng hóa tác động đến TobinQ Bảng 4.7: Kết quả hồi quy về mức độ đa dạng hóa tác động đến ROA Bảng 4.8: Kết quả ước lượng Probit không có độ trễ Bảng 4.9: Kết quả ước lượng Probit có độ trễ 123doc -5- MỤC LỤC TÓM TẮT. Những nghiên cứu trước đây. Tác động của đa dạng hóa đến giá trị doanh nghiệp. Chi phí của Đa dạng hóa: Đa dạng hóa làm giảm giá trị doanh nghiệp.
Lợi ích của đa dạng hóa: đa dạng hóa làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Bằng chứng thực nghiệm. Sơ lược về những bằng chứng thực nghiệm trước đây. Giải thích sự gia tăng/giảm giá trị doanh nghiệp của các nghiên cứu.
Vấn đề nghiên cứu của đề tài. Phương pháp nghiên cứu: Chọn mẫu, các biến và mô hình kinh tế. Biến thể hiện cho giá trị doanh nghiệp. Biến thể hiện cho mức độ đa dạng hóa.
Các biến kiểm soát. Mô hình kinh tế và phương pháp ước lượng. Thảo luận kết quả nghiên cứu. Kết quả từ thống kê mô tả.
Kết quả thống kê mô tả giữa công ty đơn ngành và công ty đa ngành. Kết quả thống kê mô tả theo mức độ đa dạng hóa. kết quả phân tích thực nghiệm. Phân tích mối quan hệ giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp.
Phân tích mối quan hệ giữa mức độ đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp. Phân tích các đặc tính của công ty tác động đến việc đa dạng hóa.Tóm tắt kết quả nghiên cứu. Một số các gợi ý chính sách cho việc đa dạng hóa. Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu xa hơn trong tương lai.
Những hạn chế của đề tài. Hướng nghiên cứu trong tương lai. 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 55 123doc -7- TÓM TẮT Bài nghiên cứu này sẽ cung cấp một bằng chứng về mức độ và giá trị của công ty đa dạng hóa thông qua việc sử dụng một mẫu gồm 872 quan sát các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.
Bài nghiên cứu cho thấy có một mối tương quan dương giữa đa dạng hóa với giá trị doanh nghiệp nhưng không tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa đa dạng hóa và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi nghiên cứu về mức độ đa dạng hóa thì tôi lại thấy rằng mức độ đa dạng hóa càng nhiều (từ 4 ngành trở nên) sẽ có mối tương quan dương không chỉ với giá trị doanh nghiệp mà còn với hiệu quả hoạt động. Có được điều này là nhờ các công ty đa dạng hóa đã tận dụng được các lợi thế trong việc gia tăng khả năng tài trợ từ bên ngoài, nhờ đó công ty sẽ lựa chọn được các dự án tốt hơn dẫn tới sự hiệu quả trên. Bên cạnh đó tôi cũng nghiên cứu xem các đặc tính công ty có tác động đến việc quyết định đa dạng hóa của công ty hay không, thì thấy rằng quyết định đa dạng hóa của công ty sẽ có mối tương quan dương với quy mô và tương quan âm với lợi nhuận trong quá khứ của công ty, không tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa quyết định đa dạng hóa và mức độ đầu tư của công ty.
123doc -8- GIỚI THIỆU Theo Ansoff (1965) đa dạng hóa doanh nghiệp là một trong những nhân tố đưa đến sự xâm nhập vào các thị trường mới và đưa ra các các sản phẩm mới cùng một lúc, đồng thời đây cũng là chủ đề nghiên cứu được đề cập nhiều nhất trong những thập kỷ qua. Khi các công ty đa dạng hoá dần gia tăng tầm quan trọng của họ trong nền kinh tế hiện đại, mối liên hệ giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp đã trở thành một "bí ẩn" vĩ đại phải được giải quyết, không chỉ trong nghiên cứu mà còn trong lĩnh vực kinh doanh (Heuskel et al, 2006). Đa dạng hóa làm gia tăng hay giảm giá trị doanh nghiệp? Các học giả đã rất nỗ lực để trả lời cho câu hỏi này. Mặc dù có sự tồn tại của một lượng lớn nghiên cứu về vấn đề này nhưng chúng vẫn chưa đưa ra được một lời giải thích thỏa đáng.
Kết quả của họ phân ra thành hai mảng chính: Chiến lược và Tài chính dẫn đến việc đưa ra các kết luận mâu thuẫn cho câu hỏi này. Trong nhiều năm, nhiều học giả đã coi đa dạng hóa như là một chiến lược làm giảm giá trị doanh nghiệp - bằng chứng ủng hộ cho sự giảm giá trị doanh nghiệp (như Lang và Stulz, 1994; Berger và Ofek năm 1995; Servaes năm 1996; Grass, 2010). Từ góc độ tài chính, Amihud và Lev (1981) đề nghị rằng câu hỏi quan trọng nhất phải được giải quyết đó là loại rủi ro được giảm khi đa dạng hóa và liệu rằng các cổ đông có thể đa dạng hóa trong danh mục đầu tư cá nhân của họ không? Nếu các nhà đầu tư có thể đa dạng hóa với chi phí thấp hơn so với các doanh nghiệp, doanh nghiệp đa dạng hóa sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp. Một loạt các bài viết gần đây nghi ngờ về ý tưởng này và các nghiên cứu về sự gia tăng của đa dạng hóa đã được đề xuất bởi (Campa và Kedia, 2002; Villalonga, 2004a).
Kết quả là, những gì mà các học giả gọi là "câu đố đa dạng hóa" vẫn chưa được giải quyết. Lane et al. (1999) tranh luận rằng câu đố đa dạng hóa bắt nguồn từ những thiếu sót giữa các phương pháp tiếp cận theo hướng Tài chính và Chiến lược. Trong khi các học giả tài chính xem các doanh nghiệp như một danh mục đầu tư mà hiệu quả của khoản đầu tư này phụ thuộc chủ yếu vào các lực lượng thị trường, còn các nhà quản lý 123doc -9- chiến lược coi danh mục đầu tư là các nguồn lực và các khả năng được liên kết bởi những người tạo ra và sử dụng chúng.
Có một đặc điểm chung đó là hiện nay các nghiên cứu hiện có về đa dạng hóa doanh nghiệp đều tập trung nghiên cứu cho thị trường Mỹ, có rất ít các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đa dạng hóa và giá trị doanh nghiệp ở bên ngoài nước Mỹ, đặc biệt là trong các thị trường mới nổi và kém phát triển, nơi mà các thị trường vốn kém phát triển, mới chỉ có một số các nghiên cứu như Sheng-Syan Chena, Kim Wai Ho (1997) nghiên cứu cho trường hợp của Singapore và Rodolfo Q. Aquino cho trường hợp của Philippines và Khanna and Palepu (2000) cho thị trường Ấn Độ. Cho nên trong bài nghiên cứu này, tôi muốn xác định mối tương quan giữa đa dạng hoá và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam vì Việt Nam có một nền kinh tế nhỏ và mở. Có nhiều lý do để cho rằng đa dạng hóa có khả năng mang lại lợi ích trong bối cảnh thị trường mới nổi.
Lý thuyết về chi phí giao dịch được đề xuất bởi Coase 1937 và Williamson 1985 cho rằng cấu trúc tối ưu của một công ty phụ thuộc vào tình hình nội bộ của nó. Ở Mỹ tình hình nội bộ được đặc trưng bởi nguồn vốn, lao động và thị trường sản phẩm tốt, ngược lại ở các thị trường mới nổi có một loạt các thất bại của thị trường được gây ra bởi vấn đề thông tin và đại diện. Ví dụ như, các thị trường tài chính được đặc trưng bởi công bố thông tin không đầy đủ, kiểm soát và quản lý yếu kém. Sự thiếu vắng của các định chế trung gian làm cho các công ty tốn kém chi phí hơn trong các thị trường mới nổi để đáp ứng nhu cầu đầu vào như tài chính, công nghệ, năng lực quản lý.
Các bất hoàn hảo của thị trường cũng làm cho việc thiết lập hình ảnh thương hiệu có chất lượng trong thị trường sản phẩm và trong việc thiết lập mối quan hệ hợp tác với các đối tác liên doanh quốc tế trở nên tốn kém hơn. Trong bối cảnh này, một công ty có thể theo đuổi lợi nhuận như một phần của một tập đoàn kinh doanh đa dạng, hoạt động với vai trò như một trung gian giữa cá nhân nhà doanh nghiệp và thị trường không hoàn hảo. Ví dụ như các tập đoàn lớn có thể sử dụng danh tiếng của mình để tạo uy tín cho các công ty con với các nhà cung cấp. Điều này mang lại một lợi ích tiềm năng cho các công ty thành viên.
123doc - 10 - Mặc dù việc đa dạng hóa sẽ mang lại nhiều lợi ích tiềm năng nhưng cũng có nhiều lý do giải thích cho việc chi phí trong các công ty đa dạng hóa vượt quá các lợi ích tiềm năng.