CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Ngành ngân hàng là một bộ phận quan trọng và là ngành cốt lõi của hệ thống kinh tế quốc gia. Các hoạt động của ngân hàng thương mại không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của chính bản thân mà còn phản ánh mức độ phân bổ nguồn lực xã hội (Chen, 2020). Bên cạnh đó, sự tăng trưởng theo cấp số nhân trong số người dùng mạng trực tuyến đã đặt ra cơ hội để ngân hàng thúc đẩy nhiều hoạt động truyền thống thông qua dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Jiménez & Díaz, 2019).
Việc áp dụng các công nghệ mới và sự gia tăng nhu cầu của người tiêu dùng đã đặt ngành ngân hàng vào môi trường cạnh tranh cao, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về những cảm nhận mà khách hàng cảm thấy khi sử dụng dịch vụ (Calvo-Porral & Lévy-Mangin, 2020). Nghiên cứu của Kim & Han (2009) đã chỉ ra rằng, khách hàng được mang lại niềm vui, tính giải trí và sự thích thú cho người tiêu dùng khi tương tác với công nghệ, bao gồm các quy trình dịch vụ diễn ra qua mạng trực tuyến. Thiết kế và quản lý trải nghiệm khách hàng đã được công nhận rộng rãi là một cách hiệu quả để tạo ra giá trị cảm nhận cho khách hàng (Addis & Holbrook, 2019; Cova et al. Giá trị cảm nhân của khách có ảnh hưởng gián tiếp thông qua niềm tin và trực tiếp đến sự trung thành của khách hàng (Boonlertvanich, 2019).
Theo nghiên cứu của Winata & Adiandari (2018) đã khẳng định rằng độ tin cậy và cảm nhận của khách hàng là hai khía cạnh ảnh hưởng tích cực đến việc giữ chân khách hàng. Ibe-enwo et al. (2019) còn nhấn mạnh rằng sự tin tưởng được coi là yếu tố quan trọng đối với hệ thông ngành tài chính, trong đó tính bảo mật và danh tiếng là những yếu tố quan trọng tác động đến sự tin cậy. Tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Nguyễn Huy Dũng (2020) phát biểu tại Hội thảo Ngày Internet Việt Nam do Hiệp hội Internet Việt Nam tổ chức ngày 16/12/2020, Việt Nam được đánh giá là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với 68,17 triệu người dùng (chiếm 70% dân số).
Trong thông cáo báo chí của Trần Thị Thu Huyền (2019), khảo sát tiêu dùng toàn cầu (GCS) của PwC cho thấy, trong 27 nước/vùng lãnh thổ, Việt Nam là thị trường tăng trưởng 2 nhanh nhất về thanh toán di động trong năm 2018 khi tỷ lệ người tiêu dùng thanh toán bằng điện thoại di động ở Việt Nam đã tăng lên 61%, từ mức 37% của năm 2017. Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của công nghệ tài chính tại Việt Nam, Theo Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021), thống kê của Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (NCSC) thuộc Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin & Truyền thông, đã chỉ ra rằng trong tháng 6/2021 có 718 cuộc tấn công mạng gây ra sự cố vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam, và phần lớn là các công ty thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm mục đích ăn cắp thông tin cá nhân và tài khoản của người sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Từ thực tiễn Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tích cực trong việc phát triển các dịch vụ của mình để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Việc đưa vào các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trực tuyến làm đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống, mở ra nhiều cơ hội mới, khả năng cạnh tranh mới.
Đặc biệt, sự xuất hiện của dịch vụ ngân hàng trực tuyến là một thành quả hữu hiệu, phá vỡ những rào cản và giới hạn về không gian, thời gian trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng trực tuyến ra đời là một xu thế tất yếu, đáp ứng được nhu cầu thanh toán qua mạng trực tuyến của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, theo Anh Minh (2020), thống kê của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (IDG) năm 2019, gần 40% số dân Việt Nam có tài khoản ngân hàng, nhưng vẫn còn 80% chi tiêu hằng ngày sử dụng tiền mặt. Nông Thị Như Mai (2015) đã cho rằng thói quen sử dụng tiền mặt của khách hàng vẫn chưa thể thay đổi được.
Doanh số dùng thẻ để rút tiền mặt qua ATM chiếm tỷ trọng quá cao (hơn 83,2% các giao dịch qua thẻ ATM là rút tiền mặt), doanh số thanh toán qua đơn vị chấp nhận thẻ và dịch vụ ngân hàng trực tuyến chiếm tỷ lệ quá ít. Chính vì vậy trong 02 năm gần đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tích cực phát triển những đề án về lĩnh vực TTKDTM cũng như phát triển cơ chế an toàn trong giao dịch trực tuyến. Theo Nghiêm Thanh Sơn (2019), trong năm 2018 và 3 những tháng đầu năm 2019, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế chuyển biến theo chiều hướng tích cực, cụ thể là: Cơ sở pháp lý về TTKDTM tiếp tục được hoàn thiện, NHNN đã trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành các văn bản Quy phạm Pháp luật (QPPL) và các cơ chế, chính sách về hoạt động thanh toán đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực thanh toán; đẩy mạnh TTKDTM; đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Hệ thống TTĐTLNH tiếp tục hoạt động an toàn, hiệu quả và thông suốt đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán liên ngân hàng trong toàn quốc.
Trong Quý 1 năm 2019, hệ thống TTĐTLNH đã xử lý 37,325 triệu giao dịch tương ứng với giá trị 20.691 nghìn tỷ đồng (tăng 22,99% về số lượng và 17,84% về giá trị so với cùng kỳ của năm 2018). Cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ TTKDTM tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả; đến cuối tháng 3/2019, trên toàn quốc có 18.705 POS; POS được lắp đặt tại hầu hết các cơ sở, chuỗi phân phối, bán lẻ, khách sạn lớn, cơ sở y tế, bệnh viện, trường học.Số lượng và giá trị giao dịch thanh toán nội địa của thẻ ngân hàng tiếp tục tăng, trong Quý I năm 2019 đạt 65 triệu giao dịch với tổng số tiền giao dịch là 171 nghìn tỷ đồng (tăng 18,45% về số lượng và 18,82% về giá trị so với cùng kỳ của năm 2017). Các NHTM đã tích hợp thêm nhiều tính năng vào thẻ ngân hàng để sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ; đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ, độ an toàn thanh toán thẻ. Thanh toán điện tử qua Internet, điện thoại di động đạt được kết quả đáng ghi nhận, thu hút số lượng lớn khách hàng sử dụng.
Trong Quý I năm 2019, số lượng và giá trị giao dịch tài chính qua kênh Internet tăng 68,8% và 13,4% so với cùng kỳ năm 2018; số lượng và giá trị giao dịch tài chính qua kênh điện thoại di động tăng 97,7% và 232,3 % so với cùng kỳ năm 2018. Các ngân hàng đã đưa các công nghệ mới, hiện đại vào hoạt động thanh toán, đẩy mạnh các hình thức thanh toán hiện đại, an toàn, tiện lợi, được người tiêu dùng đón nhận tích cực. Theo Nghiêm Thanh Sơn (2019) cũng cho biết hiện đã có 78 ngân hàng làm dịch vụ thanh toán qua Internet, 41 ngân hàng có dịch vụ thanh toán qua di động. Thanh toán di động đang dần trở thành xu hướng mới với các công nghệ như mã QR, 4 thanh toán tiếp xúc và phi tiếp xúc, số hóa thông tin thẻ (tokennization) ngày càng tăng, có 16 ngân hàng thanh toán bằng mã ma trận (QR Code), toàn thị trường có hơn 30.000 điểm chấp nhận thanh toán QR Code.
Đặc biệt hơn, từ cuối năm 2019, sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 đã khiến cho thói quen sử dụng tiền mặt phải hạn chế. Qua thông tư 04/2020/TT-NHNN Của Ngân hàng nhà nước Việt Nam theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, trong khoảng thời gian này người dân được khuyến khích sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến, bằng chứng là hàng loạt ngân hàng tại Việt Nam đã giảm chi phí chuyển tiền, chủ yếu là thanh toán các mặt hàng có giá trị từ 2.000 đồng trở xuống (Ngân hàng Nhà nước, 2020). Bên cạnh đó, từ đầu tháng 7/2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã khuyến khích các Ngân hàng triển khai định danh điện tử (eKYC – Electronic Know Your Customer) trong hoạt động với yêu cầu phải đảm bảo an toàn rủi ro (Forbes Việt Nam, 2020). Song song với tình trạng đẩy nhanh số hóa trong lĩnh vực thanh toán ngân hàng thì số lượng tấn công mạng cũng có chiều hướng gia tăng đáng kể.
Theo Theo Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021), thống kê của Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (NCSC) thuộc Cục An toàn thông tin, Bộ TT&TT, 6 tháng đầu năm 2021, Việt Nam đã hứng chịu tổng số 2.915 sự cố tấn công mạng, tăng gần 898 cuộc so với cùng kỳ năm 2020. Lý giải nguyên nhân gia tăng các sự cố tấn công mạng trong nửa đầu năm nay, các chuyên gia cho rằng hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, các đối tượng xấu vẫn lợi dụng sự quan tâm của toàn xã hội đến tình hình dịch bệnh để gia tăng tấn công mạng, phát tán mã độc và lừa đảo nhằm phá hoại, đánh cắp thông tin của người dùng cũng như tổ chức, doanh nghiệp. Các cuộc tấn công vào các tổ chức tài chính – ngân hàng có chiều hướng gia tăng và tình trạng đánh cắp thông tin bằng trang trực tuyến giả mạo ngày càng phổ biến (Cổng thông tin điện tử Sở thông tin và Truyền thông tỉnh Hà Tĩnh, 2018). Không chỉ riêng tại Việt Nam, theo Hiệp hội an toàn thông tin Việt Nam (2020), chia sẻ trong hội thảo trực tuyến “Xu hướng tấn công mạng nhắm tới các tổ chức tài chính tại Châu Á” từ CMC Telecom và Akamai, được tổ chức mới đây, ông 5 Ali Hakim – Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á của Akamai cho biết, lượng truy cập internet toàn cầu trên nền tảng Akamai đã tăng đến 30% chỉ sau 1 tháng trong thời gian giãn cách xã hội và trong 24 tháng vừa qua, Akamai quan sát thấy 662.776 vụ tấn công ứng dụng web nhắm vào ngành dịch vụ tài chính trên tổng số 7.
Các vụ tấn công ứng dụng web rất phổ biến trong ngành tài chính cũng như các ngành khác, nhưng trong ngành tài chính kẻ tấn công không đi theo con đường truyền thống. Đỉnh tấn công ở nhiều thời điểm cho thấy các phi vụ tấn công nhắm vào ngành tài chính.