Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng bằng cách lần lượt trình bày các khái niệm, cách thức đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cấu trúc vốn và đi sâu vào phân tích tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Chương này cũng giới thiệu một số lý thuyết về cấu trúc vốn ngân hàng trước khi đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động ngân hàng.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2.1 Khái niệm Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả dựa trên các góc nhìn khác nhau.
Theo Farrell (1957), hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó, còn Daft (2008) cho rằng, hiệu quả là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực, bao gồm nguyên liệu, tài chính và con người để sản xuất được sản lượng đầu ra mong muốn. Vì ngân hàng là một chủ thể kinh doanh tương đối đặc biệt, nên tồn tại một số cách tiếp cận khác nhau về hoạt động của ngân hàng khi đánh giá hiệu quả kinh doanh. Các cách tiếp cận đó là: cách tiếp cận “sản xuất”, cách tiếp cận “trung gian tài chính”, cách tiếp cận “hướng về lợi nhuận” và cách tiếp cận “giá trị tăng thêm” (Sufian, 2011). Cách tiếp cận “sản xuất” đưa ra bởi Benston (1965) được coi là cách tiếp cận truyền thống khi ngân hàng được coi là một chủ thể tạo ra các dịch vụ cho người gửi tiền hay nói cách khác, hoạt động của ngân hàng nhằm biến đổi các khoản tiền gửi 8 thành cách khoản cho vay.
Theo quan điểm này, đầu vào của quá trình sản xuất là nhân viên ngân hàng và các tài sản hữu hình trong khi đầu ra là các khoản cho vay. Cách tiếp cận này dường như bỏ qua một hoạt động quan trọng của ngân hàng là hoạt động đầu tư (Berger và Humphrey, 1997). Ngược lại, cách tiếp cận “trung gian” lại cho rằng ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa người cho vay và người đi vay. Chính vì vậy, đầu ra của hoạt động ngân hàng chính là tổng số tiền cho vay và các khoản đầu tư chứng khoán trong khi đầu vào của quá trình đó là các khoản tiền gửi, nguồn nhân lực và các khoản tài sản hữu hình (Sealey và Lindley, 1997).
Cách tiếp cận “trung gian tài chính” còn được phát triển thành cách tiếp cận “giá trị gia tăng”, trong đó, các khoản như tiền gửi và cho vay đều được coi là đầu ra vì các khoản mục này có ý nghĩa tạo ra giá trị tăng thêm. Cách tiếp cận “hướng về lợi nhuận” thì cho rằng ngân hàng cũng như một thực thể kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là tạo ra thu nhập từ các khoản chi phí đã bỏ ra cho hoạt động kinh doanh đó (Drake và cộng sự, 2006). Vì vậy, đầu ra của hoạt động ngân hàng chính là tổng thu nhập (thu nhập từ lãi và ngoài lãi) và đầu vào là tổng chi phí (chi phí lãi và chi phí ngoài lãi). Trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn cách tiếp cận hiệu quả hoạt động của ngân hàng là “hướng về lợi nhuận”, tức hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được đánh giá bằng cách so sánh lợi nhuận mà ngân hàng thu được với chi phí mà ngân hàng đã bỏ ra trong một khoảng thời gian nhất định.2 Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng Có rất nhiều phương pháp khác nhau để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Những phương pháp này có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Nguyễn Việt Hùng (2008) cho rằng có 2 phương pháp chủ yếu được dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng: (i) Phương pháp truyền thống, dựa trên các chỉ số tài chính bằng cách phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng và (ii) Phương pháp phân tích hiệu quả biên thông qua tiếp cận tham số và phi tham số. 9 Các chỉ số tài chính là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá, phân tích và phản ánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Mỗi chỉ số cho biết mối quan hệ giữa hai biến số tài chính, qua đó cho phép phân tích và so sánh giữa các chi nhánh, giữa các ngân hàng và phân tích xu hướng biến động của các biến số này theo thời gian.
Tuỳ theo mục đích sử dụng mà mỗi nhà nghiên cứu, nhà đầu tư, nhà quản trị ngân hàng lựa chọn các chỉ số khác nhau. Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) (2010) đã phân loại ra 3 nhóm chỉ số chính thường được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng như sau: (i) Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời – Phản ánh tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh – bao gồm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), chỉ số chi phí trên thu nhập (Cost to income ratio – C/I), tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), … (ii) Nhóm chỉ số đo lường hiệu quả kinh tế – Mức lợi nhuận kinh tế thật sự mà một ngân hàng nào đó có thể tạo ra thông qua sự gia tăng về giá trị. Hai chỉ số chủ yếu được sử dụng là giá trị kinh tế gia tăng (EVA – Economic Value Added) và tỷ suất sinh lợi có điều chỉnh rủi ro RAROC (risk – adjusted return on capital). Bên cạnh cách tiếp cận truyền thống thông qua các chỉ số tài chính, phương pháp phân tích hiệu quả biên cũng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Phương pháp này tính toán chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị (ngân hàng) với một đơn vị thực hiện hoạt động tốt nhất trên biên. Phương pháp phân tích hiệu quả biên có thể được chia làm hai nhóm là cách tiếp cận tham số và cách tiếp cận phi tham số. Cách tiếp cận tham số (hay phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA - Stochastic Frontier 10 Analysis) đòi hỏi phải chỉ định một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, và có chỉ định của phân phối phi hiệu quả hoặc sai số ngẫu nhiên. Cách tiếp cận phi tham số (hay phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA – Data Envelopment Analysis) không đòi hỏi các ràng buộc về hình dáng của đường biên thực hiện tốt nhất, cũng như không đòi hỏi các ràng buộc về phân phối của các nhân tố phi hiệu quả trong số liệu như cách tiếp cận tham số, trừ ràng buộc của các chỉ số hiệu quả phải nằm giữa 0 và 1, và giả sử không có sai số ngẫu nhiên hoặc sai số phép đo trong số liệu.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng dựa trên các chỉ số tài chính. Sở dĩ lựa chọn phương pháp này vì đây là phương pháp truyền thống, việc đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng khá đơn giản, dễ thực hiện trong điều kiện hạn chế về thời gian và nguồn số liệu. Hơn nữa, chỉ số tài chính luôn là một công cụ phân tích quan trọng khi chủ sở hữu của ngân hàng cũng như khách hàng tiềm năng luôn sử dụng nó để so sánh và đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các nhà quản trị của ngân hàng cũng đặc biệt chú ý đến giá trị của các chỉ số tài chính nếu mong muốn xây dựng hình ảnh tích cực và được nhìn nhận tích cực bởi công chúng.
Theo Trujillo – Ponce (2013), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) được xem là tỷ số quan trọng nhất để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng là chỉ số thường xuyên được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty. Vì vậy, bài nghiên cứu sử dụng ROA và ROE làm thước đo đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA - Return on Asset), đo lường một đồng tài sản của ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
ROA là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý. Nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không hiệu quả hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng cao quá mức. Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả 11 hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on Equity), đo lường một đồng vốn bỏ ra và tích luỹ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập hợp lý). Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.2 Cấu trúc vốn và tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2.1 Cấu trúc vốn Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp.