Chương 1: Giới thiệu về luận văn Chương 2: Tổng quan lý thuyết về cấu trúc sở hữu và rủi ro của NHTM Chương 3: Thực trạng về cấu trúc sở hữu và rủi ro của các NHTM Việt Nam Chương 4: Nghiên cứu tác động cấu trúc sở hữu đến rủi ro của các NHTM Việt Nam Chương 5: Kết luận và kiến nghị 1. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài cung cấp một số lý thuyết và khái quát được thực trạng về cấu trúc sở hữu và rủi ro của các NHTM. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, đề tài đưa ra mô hình để nghiên cứu tác động cấu trúc sở hữu đến rủi ro của các NHTM Việt Nam từ đó có thể đề xuất ra một số kiến nghị đối với 123doc 4 Nhà nước và các NHTM liên quan đến cấu trúc sở hữu cũng như hoạt động của các ngân hàng nhằm hạn chế được rủi ro không đáng có, có thể giúp ổn định được hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Tác giả mong muốn sẽ đóng góp phần nào đó vào việc giải quyết vấn đề cấp thiết hiện nay của Nhà nước là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững, nhất là trong thời kỳ mở cửa của nước ta hiện nay.
123doc 5 CHƢƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu của NHTM Cấu trúc sở hữu có thể hiểu một cách ngắn gọn là cơ cấu vốn góp trong một doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu khi phân tích cấu trúc sở hữu của một ngân hàng sẽ tập trung vào tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông, thứ nhất có thể xét đến quyền sở hữu tập trung là tỷ lệ sở hữu của các cổ đông nắm giữ cổ phiếu nhiều nhất; thứ hai là đặc tính của cổ đông như: tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu tư nhân, tỷ lệ sở hữu của tổ chức, tỷ lệ sở hữu gia đình. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thời gian qua cũng ghi nhận nhiều kết quả khác nhau khi nghiên cứu về cấu trúc sở hữu.
Về khía cạnh thứ nhất là quyền sở hữu tập trung, ta có nghiên cứu của Iannota, G. (2007) so sánh hiệu suất và rủi ro của mẫu gồm 181 ngân hàng lớn từ 15 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 1999-2004. Bài nghiên cứu đưa ra ba kết quả chính. Thứ nhất, các ngân hàng do chính phủ sở hữu biểu lộ một khả năng sinh lời thấp hơn so với các ngân hàng tư nhân, mặc dù chi phí thấp hơn.
Thứ hai, các ngân hàng khu vực nhà nước có chất lượng nợ thấp hơn và rủi ro vỡ nợ cao hơn. Cuối cùng, mặc dù sự tập trung sở hữu không ảnh hưởng đáng kể tới khả năng sinh lời, nhưng sự tập trung sở hữu cao hơn liên quan đến chất lượng nợ tốt hơn, rủi ro tài sản thấp hơn và rủi ro vỡ nợ thấp hơn. Ngoài ra còn có nghiên cứu của Shehzad, Haan, Scholtens (2010), thông qua số liệu thu thập của 500 NHTM từ hơn 50 quốc gia trong giai đoạn 2005-2007, và nhận thấy được sự tập trung trong sở hữu có tác động đáng kể đến chất lượng nợ và vốn hóa của ngân hàng. Sự tập trung trong sở hữu và tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng có ảnh hưởng ngược chiều.
Mosk (2012) nghiên cứu để đưa ra câu trả lời về việc tập trung quyền sở hữu có làm giảm sự mất ổn định tài chính bằng cách cải thiện chất lượng khoản vay và mức an toàn vốn? Để phân tích chỉ số về chất lượng khoản vay, tác giả sử dụng chỉ tiêu nợ xấu và sử dụng tổng nguồn vốn, vốn cấp một để 123doc 6 phân tích mức an toàn vốn. Sử dụng dữ liệu của khoảng 1.800 ngân hàng từ gần 80 quốc gia, kết quả nghiên cứ cho rằng mức độ tập trung trong quyền sở hữu cao hơn đã làm cải thiện đáng kể tỷ lệ nợ xấu so với mức độ tập trung quyền sở hữu thấp hơn. Về vấn đề thứ hai là đặc tính của cổ đông, sở hữu của chính phủ (sở hữu nhà nước) có ý nghĩa đến hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động cho vay. Như theo nghiên cứu của Paola Sapienza (2002) sử dụng thông tin về hợp đồng cho vay cá nhân để nghiên cứu ảnh hưởng của sở hữu của chính phủ đối với hành vi cho vay của ngân hàng.
Các ngân hàng quốc doanh áp dụng mức lãi suất thấp hơn so với các ngân hàng tư nhân. Các ngân hàng quốc doanh chủ yếu ủng hộ các doanh nghiệp lớn nằm ở những khu vực phát triển không mạnh mẽ. Các ngân hàng quốc doanh khi thực hiện cho vay sẽ có liên quan đến kết quả bầu cử của đảng có liên quan với ngân hàng: đảng chính trị mạnh mẽ hơn trong khu vực đang vay mượn thì mức lãi suất trong khu vực đó sẽ thấp hơn. Reja (2015) đã cung cấp bằng chứng về tác động của cấu trúc sở hữu đối với hoạt động của các ngân hàng.
Sử dụng dữ liệu thứ cấp, phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này chỉ giới hạn cho các NHTM Malaysia năm 2000- 2011. Thử nghiệm trên năm loại cấu trúc quyền sở hữu như nội bộ, gia đình, chính phủ, thể chế và sở hữu nước ngoài, kết quả cho thấy hiệu quả hoạt động sẽ khác nhau đối với các loại hình cơ cấu sở hữu khác nhau. Quyền sở hữu nội bộ và quyền sở hữu của chính phủ có tác động đáng kể đến những thay đổi của ngân hàng. Tuy nhiên kết quả không nhất quán về quyền sở hữu nội bộ với giả thuyết cho thấy rằng cổ phần hiện tại của nội bộ không đủ để gắn kết sự quan tâm của cổ đông nội bộ với các nhà quản lý và từ đó ngăn cản họ làm việc để mang lại tối đa hóa lợi ích của cổ đông.
Kết quả cho thấy quyền sở hữu của tổ chức chỉ có ý nghĩa đối với ROE nhưng không đáng kể đối với ROA. Trong khi đó, kết quả về quyền sở hữu gia đình và sở hữu nước ngoài cho thấy cả hai loại cơ cấu sở hữu này không có tác động đáng kể. 123doc 7 Một làn sóng mới trong việc tư nhân hóa ngân hàng đã làm thay đổi đáng kể cấu trúc sở hữu của các hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới theo nghiên cứu của Taboada, A. Tác giả tìm hiểu xem những thay đổi này ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả phân bổ vốn và đưa ra nhận định sự suy giảm quyền sở hữu của chính phủ đối với các ngân hàng không ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ vốn.
Tuy nhiên, điều quan trọng là liệu người nước ngoài hoặc các cổ đông lớn trong nước có mua được các cổ phần của chính phủ. Tăng sở hữu trong nước của các ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến việc phân bổ vốn, tăng cường sự hiện diện của nước ngoài làm tăng hiệu quả phân bổ vốn, đặc biệt ở các nước có sự bảo vệ tốt đối với các cổ đông thiểu số. Cuối cùng, việc gia tăng sự hiện diện của cổ đông trong nước có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tài chính. Bài báo của Samir Srairi (2013) điều tra tác động của cấu trúc sở hữu, được đo lường thông qua: tính chất của chủ sở hữu, tập trung trong sở hữu, rủi ro, kiểm soát ngân hàng, các đặc điểm và các quy định của ngân hàng khác nhau.
Đặc biệt, so sánh hành vi mạo hiểm của các ngân hàng thông thường và Hồi giáo tại 10 quốc gia MENA gồm sở hữu gia đình, tổ chức và nhà nước trong giai đoạn 2005-2009. Kết quả đưa ra khi cơ cấu quyền sở hữu thay đổi có ý nghĩa quan trọng trong sự khác biệt về rủi ro giữa các ngân hàng, tồn tại mối liên hệ tiêu cực giữa tập trung quyền sở hữu và rủi ro, các loại cổ đông khác nhau có thái độ rủi ro khác nhau. Các ngân hàng sở hữu gia đình có rủi ro ít hơn. Các ngân hàng quốc doanh có rủi ro cao hơn và có tỷ lệ nợ xấu cao hơn.
Bằng cách so sánh các ngân hàng thông thường và Hồi giáo, các kết quả thực nghiệm cho thấy các ngân hàng Hồi giáo tư nhân cũng ổn định như các ngân hàng thông thường tư nhân. Tuy nhiên, các ngân hàng Hồi giáo có rủi ro tín dụng thấp hơn so với các ngân hàng thông thường. Kết quả làm nổi bật là khi có sự sở hữu tập trung thì ngân hàng đó có rủi ro phá sản thấp hơn và rủi ro tài sản thấp hơn. Các phát hiện của bài báo cũng cho thấy rằng bản chất của chủ sở hữu giải thích việc chấp nhận rủi ro như các ngân hàng thuộc sở hữu gia đình dường như có rủi ro thấp hơn.
Không có sự khác biệt giữa hai loại ngân hàng Hồi giáo và 123doc 8 thông thường về điểm Z. Kết quả phù hợp với quan điểm cho rằng các ngân hàng quốc doanh có rủi ro tín dụng lớn hơn các ngân hàng tư nhân. Ngoài ra, nhóm tác giả Berger, K. (2005) đã nghiên cứu dựa trên ba loại sở hữu là sở hữu trong nước, nước ngoài và nhà nước.
Những phát hiện chính của bài nghiên cứu về ảnh hưởng của quyền sở hữu ngân hàng đối với hiệu quả hoạt động cho thấy các ngân hàng quốc doanh có xu hướng có hiệu quả hoạt động về lâu dài kém hơn so với các ngân hàng khác, kết quả này phù hợp với nhiều tài liệu. Tại Việt Nam. các NHTM có cấu trúc sở hữu cũng khá đa dạng. Các nhà nghiên cứu trong nước cũng quan tâm phân tích nhưng thực sự chưa nhiều.
Như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Sơn (2014) về “Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu”, nghiên cứu của tác giả Võ Xuân Vinh về “Cấu trúc sở hữu, hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được đăng trên Tạp chí phát triển và hội nhập số 16 (2014), cả hai nghiên cứu đều cho ra kết quả cấu trúc sở hữu khác nhau có tác động khác nhau đến hoạt động của doanh nghiệp. Khung lý thuyết về rủi ro tín dụng của NHTM Rủi ro là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những tác động bất lợi cho cá nhân hoặc tổ chức. Đối với ngân hàng, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu.