Chương 1 nghiên cứu đã nêu rõ tính cấp thiết của nghiên cứu cũng như các nội dung khác có liên quan như mục tiêu, câu hỏi của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC MẠNH THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Nội dung của Chương 2 sẽ làm rõ các vấn đề: (i) Cơ sở lý luận về sức mạnh thị trường của các ngân hàng; (ii) Cơ sở lý luận về sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại và (iii) Bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm về sức mạnh thị trường và sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại. SỨC MẠNH THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Sức mạnh thị trường của các ngân hàng thương mại OECD (2002) định nghĩa sức mạnh thị trường đề cập đến khả năng của một doanh nghiệp (hoặc nhóm các doanh nghiệp) có khả năng nâng và duy trì mức giá cao hơn và chiếm ưu thế khi cạnh tranh với các doanh nghiệp trong cùng ngành được gọi là sức mạnh thị trường.
Khi các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường hay thị trường ở trạng thái độc quyền sẽ dẫn tới việc giảm sản lượng và phúc lợi của nền kinh tế. Việc so sánh giá và chi phí biên cùng với cấu trúc thị trường Church và Ware (2000) đã xác định rằng một doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có sức mạnh thị trường, trong khi đó một doanh nghiệp trong một thị trường độc quyền thì có sức mạnh thị trường mạnh nhất. Do đó, giữa sức mạnh thị trường và mức độ cạnh tranh có mối quan hệ ngược chiều. Khi thị trường càng cạnh tranh thì sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp càng thấp và ngược lại, khi thị trường càng độc quyền thì sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp càng cao.
Nghiên cứu của Shepherd (1970) cho rằng sức mạnh thị trường là khả năng mà các doanh nghiệp tham gia thị trường ảnh hưởng đến mức giả cả chung, chất lượng và tính chất của các sản phẩm trên thị trường. Kết quả nghiên cứu của Berger và Hannan (1998), Koetter và cộng sự (2012) khẳng định khi các ngân hàng có sức mạnh thị trường đáng kể có khả năng tăng giá vượt quá mức cạnh tranh và áp đặt các điều khoản bất lợi khác ngoài giá cho khách hàng vay vốn của ngân hàng. 5 Fernandez de Guevara và cộng sự (2005) thì định nghĩa sức mạnh thị trường của ngân hàng như là một chỉ số đo lường sức mạnh cạnh tranh và mô tả mức độ mà ngân hàng có khả năng đặt giá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng vượt quá chi phí biên của ngân hàng. Trong nghiên cứu này, sức mạnh thị trường của các ngân hàng được xem như chỉ số đo lường khả năng kiểm soát thị trường và áp đặt mức giá các sản phẩm dịch vụ theo hướng có lợi cho ngân hàng.
Khi sức mạnh thị trường của ngân hàng càng cao thì mức độ cạnh tranh trong các ngân hàng thương mại càng thấp, mức độ độc quyền càng cao. Ngược lại, khi chỉ số sức mạnh thị trường của ngân hàng càng thấp thể hiện quyền lực của ngân hàng trên thị trường càng thấp và mức độ cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng tăng lên. Các phương pháp đo lường sức mạnh thị trường của các ngân hàng Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng hai phương pháp chính để đo lường sức mạnh thị trường của các ngân hàng bao gồm: (i) Phương pháp đầu tiên dựa vào lý thuyết tổ chức ngành công nghiệp mới với chỉ số Lerner, chỉ số thống kê H - Panzar-Rosse (Fernandez de Guevara và cộng sự, 2005); (ii) Phương pháp thứ hai dựa vào các chỉ số đo lường mức độ tập trung để ước lượng sức mạnh thị trường của các ngân hàng (Berger, 1995). Chỉ số Lerner Chỉ số Lerner được phát triển bởi Lerner (1934) và được định nghĩa là sự khác biệt giữa giá và chi phí biên trong so sánh với giá.
Chỉ số Lerner dao động từ 0 đến 1, khi chỉ số Lerner càng cao thể hiện sức mạnh thị trường lớn hơn và mức độ cạnh tranh thấp hơn. Khi giá bằng chi phí biên thì chỉ số Lerner bằng 0 có nghĩa là doanh nghiệp không có sức mạnh thị trường để xác định giá. Khi đó thị trường đạt mức độ cạnh tranh lớn nhất. Trong lĩnh vực ngân hàng, Ariss (2010) cho rằng chỉ số Lerner của các ngân hàng được đo lường bằng sự khác biệt giữa giá đầu ra của ngân hàng và chi phí biên chia cho giá đầu ra của ngân hàng.
Khi chỉ số Lerner càng cao nghĩa là sự khác biệt giữa giá và chi phí biên của ngân hàng càng lớn thể hiện sức mạnh thị trường của ngân hàng càng lớn. Khi chỉ số Lerner bằng 0 thể hiện thị trường ngân hàng đang trong trạng thái cạnh tranh 6 hoàn toàn, chỉ số Lerner bằng 1 thể hiện thị trường ngân hàng đang ở trạng thái độc quyền. Chỉ số Lerner thể hiện mức độ mà một ngân hàng cụ thể có sức mạnh thị trường để đặt giá cao hơn chi phí biên. Pit − MCit Lernerit = (2.1) Pit Trong đó: Lernerit chỉ số Lerner của ngân hàng i năm t; Pit là giá trung bình đầu ra của ngân hàng - đo lường bằng tổng thu nhập chia tổng tài sản của ngân hàng i năm t; MCit Chi phí biên ngân hàng i năm t Việc sử dụng chỉ số Lerner để ước lượng sức mạnh thị trường của các ngân hàng đã được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của Shaffer (1993) tại Canada, Maudos và cộng sự (2007) cho các ngân hàng thương mại tại châu Âu, Soedarmono và cộng sự (2013) cho các ngân hàng thương mại các quốc gia châu Á….
Chỉ số H Chỉ số H được phát triển bởi Panzar và Rosse (1987) là một phương pháp để ước lượng sức mạnh thị trường của các ngân hàng (Claessens và Laeven, 2004). Tuy nhiên, một tính năng quan trọng của chỉ số thống kê H theo phương pháp Panzar - Rosse phải được áp dụng trên cơ sở các quan sát có trong cân bằng dài hạn (Bikker và Bos, 2008). Chỉ số thống kê H là tổng hợp các giá trị co giãn đầu vào của phương trình hồi quy doanh rút gọn cho thấy điều kiện cạnh tranh hay sức mạnh thị trường của ngành ngân hàng. Độ co giãn của giá các yếu tố đầu vào thể hiện được mối quan hệ giữa doanh thu và giá đầu vào.
Do đó, chúng ta có thể sử dụng các độ co giãn để kiểm tra sự thay đổi của giá đầu vào ảnh hưởng đến doanh thu. Sau đó ước tính tổng độ co giãn này như là thước đo sức mạnh thị trường của các ngân hàng. Dựa vào nghiên cứu của Panzar and Rosse (1987) thỉ sức mạnh thị trường của một ngân hàng có thể được đo bằng mức độ thay đổi doanh thu khi thay đổi chi phí các yếu tố đầu vào thông qua chỉ số H theo phương trình sau: 𝜕𝑅𝑖∗ 𝑤𝑘𝑖 𝐻 = ∑𝑚 𝑘=1 ∗ (2.2) 𝜕𝑤𝑘𝑖 𝑅𝑖∗ 7 Với Ri là tổng doanh thu của ngân hàng i; wki là giá đầu vào k của ngân hàng i; 𝜕𝑅𝑖∗ và 𝜕𝑤𝑘𝑖 là sự co giãn của doanh thu và giá các yếu tố đầu vào của ngân hàng. Đánh giá sức mạnh thị trường theo chỉ số H Hệ số Ý nghĩa Đặc điểm Mỗi ngân hàng hoạt động độc lập thể hiện H≤0 Độc quyền sức mạnh thị trường thông qua hình thức tối đa hóa lợi nhuận độc quyền Các ngân hàng độc lập có sức mạnh thị 0<H<1 Cạnh tranh độc quyền trường ít hơn, cạnh tranh nhiều hơn về các sản phẩm dịch vụ và lợi nhuận ít hơn.
Sức mạnh thị trường của các ngân hàng H=1 Cạnh tranh hoàn hảo thấp nhất, cạnh tranh tự do và không có hàng rào gia nhập ngành. Nguồn: Panzar và Rosse (1987) Rosse và Panzar (1987) cho thấy khi chỉ số H là âm hoặc bằng 0 thì cấu trúc của thị trường là độc quyền khi đó sức mạnh thị trường của ngân hàng là lớn nhất. Cấu trúc thị trường được đặc trưng bởi cạnh tranh độc quyền khi 0 < H < 1, giá trị của chỉ số H nằm giữa 0 và 1 thể hiện các mức độ cạnh tranh khác nhau, giá trị cao hơn cho thấy sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn so với giá trị thấp. Khi H = 1 thì thị trường là cạnh tranh hoàn hảo, khi đó các nguồn lực của thị trường sử dụng hiệu quả nhất và các ngân hàng độc lập không có sức mạnh để áp đặt giá để tạo ra lợi nhuận độc quyền.
Chỉ số Herfindhal Hirschman Index (HHI) Hai giả thuyết về mức độ tập trung và sức mạnh thị trường của các ngân hàng thương mại được nghiên cứu dựa trên: (i) lý thuyết truyền thống về kinh tế công nghiệp cho rằng sự tập trung không khuyến khích cạnh tranh và làm giảm sức mạnh thị trường của các ngân lý thuyết về các thị trường có khả năng cạnh tranh (Baumol, 1982) giả định 8 rằng nếu đầu vào và đầu ra là tự do, cạnh tranh có thể tồn tại ngay cả khi thị trường tập trung. Mô hình SCP - Cấu trúc – Vận hành – Hiệu quả (Bain, 1956) kết luận rằng khi thị trường chỉ tồn tại một số nhỏ các doanh nghiệp sẽ làm gia tăng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp đó dẫn tới làm giảm sức cạnh tranh của thị trường. Mô hình của Bain (1956) cũng giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu quả hoạt động, khi thị trường ở mức độ tập trung cao nơi các công ty có sức mạnh thị trường cao hơn cho phép các doanh nghiệp áp đặt mức lợi nhuận cao hơn. Baumol (1982) lại cho rằng trong một thị trường tập trung hay các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường cao vẫn có khả năng tồn tại cạnh tranh bằng cách tự do hóa các đầu vào và đầu ra của quá trình hoạt động kinh doanh.
Chỉ số HHI là thước đo sức mạnh thị trường và cạnh tranh trong các ngân hàng thương mại được sử dụng khá phổ biến vì đơn giản. HHI được đo lường bằng tổng của bình phương thị phần của ngân hàng theo công thức (2.3): HHIt = ∑ni=1 sit2 (2.3) HHI là chỉ số đo lường mức độ tập trung của hệ thống; n là số ngân hàng có trong hệ thống; sit là thị phần của ngân hàng i tại thời điểm t. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng mức độ tập trung và sức mạnh thị trường là hai yếu tố riêng biệt. Việc sử dụng chỉ số HHI để đo lường sức mạnh thị trường của các ngân hàng bị nhiều chỉ trích (Claessens và Laeven, 2004; Schaeck và cộng sự, 2009).