Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật thuế giá trị gia tăng và lý luận về so sánh quy định thuế giá trị gia tăng. • Chương 2: So sánh quy định thuế giá trị gia tăng Việt Nam và một số nước trên thế giới. • Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật và một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ LÝ LUẬN VỀ SO SÁNH QUY ĐỊNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.
Khái quát về pháp luật thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng a) Khái niệm Thuế có thể định nghĩa là tiền thu hoặc phí hoặc lệ phí tài chính khác do Nhà nước quy định áp dụng đối với các các nhân hoặc pháp nhân. Thuế được phân thành thuế trực thu nếu đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, tổ chức; hoặc thuế giá thu nếu đánh thông qua việc giao dịch hàng hóa hoặc dịch vụ. Thuế giá trị gia tăng, còn được gọi là thuế VAT – tên viết tắt bằng tiếng Anh – Value Added Tax, là một loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ.118] Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa, nhận dịch vụ.147] So với lịch sử hình thành thuế thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tương đối mới.
Trên thế giới, thuế giá trị gia tăng lần đầu được đề xuất áp dụng vào năm 1918, bởi một nhà kinh tế người Đức, sau đó là Mỹ năm 1947 và ở Nhật Bản năm 1953.119] Tuy vậy, sắc thuế này lần đầu tiên được áp dụng ở Pháp năm 1954, ở Bỉ năm 1971, ở Anh vào năm 1973, ở Nhật Bản năm 1988 với tên gọi thuế tiêu dùng.140] Kể từ khi được áp dụng đến nay, đã có nhiều quan điểm về khái niệm của thuế giá trị gia tăng được đưa ra. Có quan điểm cho rằng: “Thuế giá trị gia tăng (VAT) là thuế tiêu thụ đối với hàng hóa và dịch vụ được đánh vào từng giai đoạn của chuỗi cung ứng – nơi giá trị được gia tăng, từ sản xuất bán đầu đến điểm bán hàng”. [86] Có quan điểm lại cho rằng: “Thuế giá trị gia tăng (VAT) là một loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa và dịch vụ để tạo ra giá trị gia tăng tại mọi điểm của chu trình 8 sản xuất hoặc phân phối, bắt đầu từ nguyên vật liệu thô cho đến khâu mua bán lẻ cuối cùng.”[73] Theo Parmameswanran (2005) định nghĩa thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế bán hàng, được thanh toán bởi các nhà sản xuất hoặc cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở giá trị gia tăng do họ tạo ra. Vì vậy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng trong nước, nó được thiết kế để thanh toán giá trị gia tăng, là phần chênh lệch giữa giá trị mua và giá trị bán tại điểm giao dịch trong toàn bộ chuỗi sản xuất và phân phối.
Bất cứ nhà sản xuất nào đều phải chịu thuế giá trị gia tăng, tuy nhiên họ sẽ được hoàn lại thuế cho các giao dịch mua hoặc đầu vào.8] Ở nước ta, thuế giá trị gia tăng được du nhập vào Việt Nam năm 1997 bằng Luật thuế giá trị gia tăng, trước đó hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chịu thuế doanh thu theo Luật thuế doanh thu được Quốc hội ban hành năm 1990. Các quan điểm đều cho rằng, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tiêu dùng, về bản chất là thuế gián thu, thuế này đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức và cá nhân. Chủ thể bán hàng và dịch vụ là người nộp thuế, còn người tiêu dùng là người chịu thuế. Điều này giúp cơ quan quản lý, thu thuế GTGT sẽ dễ dàng hơn, tránh được phản ứng gay gắt về thuế [9, tr.
Dưới góc độ pháp lý, theo Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” (Điều 2, Luật Thuế GTGT Việt Nam) Như vậy, có thể hiểu, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tiêu dùng, gián thu, đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trên từng giai đoạn của chuỗi cung ứng, từ sản suất, lưu thông đến tiêu dùng. b) Đặc điểm Một là, thuế giá trị gia tăng là một hình thức thuế gián thu. Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế tiêu dùng, về bản chất là thuế gián thu, đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, của các tổ chức và cá nhân.140] 9 Đối với sắc thuế này, đối tượng tiêu dùng cuối cùng của hàng hóa và dịch vụ là người chịu thuế. Người tiêu dùng khi mua hàng hóa, dịch vụ sẽ chịu thêm phần thuế giá trị tăng thêm, đã được cộng thêm vào giá bán của người bán khi mua hàng.
Người cung ứng hàng hóa, dịch vụ sẽ là người nộp thuế cho nhà nước.133] Đây chính là tính chất gián thu của thuế giá trị gia tăng, chủ thể nộp thuế không phải là chủ thể chịu thuế. Có thể thấy, do sự chuyển thuế trên, thuế GTGT không trực tiếp điều tiết vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ. Đặc điểm này giúp cho thuế GTGT tránh được sự những phản ứng gay gắt từ người chịu thuế, đồng thời cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể hạn chế hành vi trốn thuế từ nộp thuế, bởi họ không phải là người chịu thuế. Hai là, thuế giá trị gia tăng thu trên diện rộng.
Thuế GTGT là thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong nước đối với hầu hết các mặt hàng. Mọi tổ chức, các nhân thu nhập cao hay thấp khi thực hiện việc trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ đều phải chịu thuế GTGT.59] Mục đích bao trùm của thuế GTGT là đánh thuế trên diện rộng đối với tiêu dùng cuối cùng, được hiểu là tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình. Về nguyên tắc, chỉ các cá nhân tham gia vào hoạt động tiêu dùng phải chịu thuế VAT. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp cũng phải chịu thuế GTGT khi mua và sử dụng tư liệu sản xuất, đồ dùng văn phòng và những thứ tương tự.
Có thể thấy, hệ thống thuế GTGT đặt ra gánh nặng thuế GTGT không chỉ đối với tiêu dùng của các cá nhân, mà còn trên các thực thể khác nhau, bao gồm cả các hoạt động phi kinh doanh. Điều này giúp đảm bảo công bằng xã hội theo chiều ngang, mọi chủ thể trong xã hội đều có nghĩa vụ đóng thuế, đóng góp vào ngân sách Nhà nước vì các mục đích chung của xã hội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, thuế giá trị gia tăng có phạm vị rộng nhưng chỉ thu vào hoạt động tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, không tác động đến hàng hóa xuất nhập khẩu, giúp khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. 10 Ba là, thuế giá trị gia tăng được thu theo quy trình, giai đoạn Đây là sự khác biệt chính của thuế giá trị gia tăng với các loại thuế tiêu dùng khác (như thuế bán lẻ, thuế doanh thu).
Thuế GTGT được thu thông qua giá trị gia tăng ở mỗi giai đoạn sản xuất và phân phối, giúp hạn chế được đánh thuế việc trùng lặp –nhược điểm của thuế doanh thu.120] Mỗi doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng đều tham gia vào quá trình, kiểm soát và thu thuế. Tỷ lệ thuế phải nộp tương ứng với tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp đó, tức là phần chênh lệch giữa thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT đầu ra. Doanh nghiệp thu thuế GTGT trên giá trị sản phẩm đầu ra của khách hàng và được khấu trừ số thuế đã nộp khi mua hàng, sau đó phải hạch toán, nộp số chênh lệch (hoặc được hoàn thuế) cho cơ quan thuế. Cơ chế này phản ánh đặc điểm thiết kế trọng tâm của thuế GTGT là thuế do doanh nghiệp thu thông qua quá trình thanh toán theo giai đoạn cùng với nguyên tắc cơ bản là gánh nặng thuế không thuộc về doanh nghiệp mà là người tiêu dùng cuối cùng.
Bốn là, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế trung lập [69] Thuế GTGT không phải yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Từ đó, thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế. Hơn nữa, thuế giá trị gia tăng còn không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế. Quá trình tổ chức kinh tế và phân chia các chu trình kinh tế có diễn ra dài hay ngắn, thì số thuế thu được luôn khớp với tổng số thuế đánh trên từng giai đoạn.
Hơn nữa, thuế GTGT không can thiệp sâu vào việc khuyến khích hay hạn sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ tiêu dùng theo ngành nghề cụ thể, có thuế suất chênh lệch nhau nhiều, không khuyến kích việc hội nhập doanh nghiệp theo chiều dọc để tránh thuế. Mục tiêu của sắc thuế này không phải để trực tiếp điều chỉnh chênh lệch về thu nhập hay tài sản của người chịu thuế như thuế thu nhập hay thuế tài sản. Vì vậy, thuế GTGT thường ít mức thuế suất, đối tượng miễn giảm rất hạn chế, đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng.[25] 11 Do đó, trong thương mại nội địa, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế trung lập về kinh tế, bởi lẽ nó 1. Khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng Thế giới hiện nay chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng, vì vậy, để hiểu hơn về khái niệm pháp luật thuế giá giá trị gia tăng trước tiên cần tìm hiểu về khái niệm pháp luật hay pháp luật thuế.
Trước tiên, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, được nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục đích bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và sự phát triển bền vững của xã hội.