CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SÁNG KIẾN XANH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SÁNG KIẾN XANH ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về sáng kiến xanh 1.1 Khái niệm • Tổng quan về tăng trưởng xanh và nền kinh tế xanh Khái niệm tăng trưởng xanh lần đầu tiên được đưa ra cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương năm 2005 khi đây là khu vực được coi là dễ bị tổn thương nhất trước các biến cố về môi trường. Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (UNESCAP) đã gợi mở xu hướng tăng trưởng xanh để giúp các nước Châu Á và Thái Bình Dương hướng tới phát triển bền vững, tìm kiếm sự hoà hợp giữa hai nhu cầu “tăng trưởng kinh tế” và “bền vững về môi trường”, tạo ra sự phối hợp cùng có lợi (win – win) giữa môi trường và kinh tế và để cho môi trường được coi như một cơ hội hơn là chi phí và gánh nặng đối với nền kinh tế và doanh nghiệp. UNESCAP đã định nghĩa: “Tăng trưởng xanh là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hoá trong sản lượng kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái, là cách tiếp cận mới để tìm kiếm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội” (UNESCAP, 2011). Tương tự như khái niệm tăng trưởng xanh của UNESCAP, nền kinh tế xanh nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thay đổi cơ cấu trong sản xuất và tiêu dùng.
“Một nền kinh tế xanh là nền kinh tế trong đó bao gồm những mối liên hệ sống còn giữa kinh tế, xã hội và môi trường, và trong đó sự chuyển dịch quá trình sản xuất, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng vừa góp phần làm giảm rác thải, ô nhiễm, sử dụng tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng trên một đơn vị sản phẩm, vừa tạo ra những cơ hội việc làm, thúc đẩy thương mại bền vững, giảm nghèo, cải thiện công bằng và phân phối thu nhập”. Hiểu đơn giản, một nền kinh tế xanh là một nền kinh tế carbon thấp, nguồn lực hiệu quả, và xã hội toàn diện. Trong một nền kinh tế xanh, tăng trưởng thu nhập và Luan van 8 việc làm được thúc đẩy bởi đầu tư công và tư nhân làm giảm lượng khí thải carbon và ô nhiễm, tăng cường năng lượng và hiệu quả tài nguyên, và ngăn chặn việc mất đa dạng sinh học và hệ sinh thái dịch vụ (UNEP, 2011). Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của bất kỳ các quốc gia nào trên thế giới.
Chúng ta không thể phủ nhận những đóng góp đáng kể của doanh nghiệp vào tăng trưởng xanh của nền kinh tế. Nói cách khác, hiệu quả hoạt động xanh của doanh nghiệp là nền móng của nền kinh tế xanh của quốc gia. Do đó, để đạt được mục tiêu tăng trưởng xanh của quốc gia, các doanh nghiệp cần hướng tới các sáng kiến kinh doanh xanh • Khái niệm Sáng kiến xanh: Theo (Reid và Miedzinski, 2008) khái niệm Sáng kiến xanh có thể được hiểu là việc đổi mới các quy trình sản xuất, kinh doanh để tạo ra các loại hàng hóa, dịch vụ và hệ thống quản lý có giá cả cạnh tranh đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và mang lại chất lượng cuộc sống cho con người với việc sử dụng tối thiểu nguồn tài nguyên thiên nhiên trong suốt vòng đời (bao gồm cả vật liệu năng lượng và diện tích bề mặt) trên mỗi đơn vị sản lượng và hạn chế phát thải các chất độc hại ra ngoài môi trường. Chen và cộng sự (2016) định nghĩa sáng kiến xanh là sự đổi mới phần cứng hoặc phần mềm liên quan đến các sản phẩm hoặc quy trình xanh, bao gồm đổi mới công nghệ liên quan đến tiết kiệm năng lượng, ngăn ngừa ô nhiễm, tái chế chất thải, thiết kế sản phẩm xanh hoặc quản lý môi trường của doanh nghiệp.
OECD (2009) đã khái quát lại định nghĩa về sáng kiến xanh như sau: “Là việc sản xuất hoặc thực hiện các sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) mới, bao gồm cải thiện đáng kể các quy trình, phương pháp marketing, cơ cấu tổ chức và sắp xếp thể chế nhằm mục đích cải thiện môi trường so với các lựa chọn thay thế có liên quan. Tóm lại, Sáng kiến xanh có thể định nghĩa là tất cả các biện pháp được thực hiện bởi các bên liên quan nhằm phát triển và áp dụng các quy trình cải tiến hoặc đổi mới, quy trình, sản phẩm, kỹ thuật và hệ thống quản lý; góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường để đạt được mục tiêu sinh thái cụ thể.2 Phân loại Có nhiều cách phân loại sáng kiến xanh, trong đó, cách phân loại phổ biến chia sáng kiến xanh thành 6 mảng sáng kiến bao gồm: quản trị chuỗi cung ứng xanh, logistic xanh, marketing xanh, quảng cáo xanh, nhãn sinh thái và cải tiến sản phẩm xanh (Kushwaha và Sharma, 2016). Các doanh nghiệp có thể ứng dụng các mảng sáng kiến khác nhau trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình.1 Quản trị chuỗi cung ứng xanh và logistic ngược (Green Supply Chain Management – GSCM) Chuỗi cung ứng xanh là quá trình sử dụng đầu vào thân thiện với môi trường và biến các sản phẩm phụ của quá trình sử dụng thành thứ có thể cải thiện được hoặc tái chế được trong môi trường hiện tại. Quá trình này giúp cho các sản phẩm đầu ra và các sản phẩm phụ có thể được tái sử dụng khi kết thúc vòng đời của chúng, và như vậy tạo ra một chuỗi cung ứng bền vững.
Toàn bộ ý tưởng về chuỗi cung ứng bền vững là để giảm chi phí và thân thiện với môi trường (Penfield, 2008). Quản trị chuỗi cung ứng xanh được hiểu là các hoạt động liên quan đến việc mua sắm xanh và tái cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp (Chan và cộng sự, 2012). Nói cách khác, GSCM được hiểu là hoạt động quản trị của doanh nghiệp từ khâu mua sắm vật liệu thô cho đến khâu giao sản phẩm cuối cùng để đảm bảo rằng môi trường không bị ảnh hưởng. Ví dụ: lựa chọn vật liệu thân thiện với môi trường, đóng gói hàng hóa xanh, v.v… Bằng cách sử dụng các vật liệu tái chế để sản xuất sản phẩm có thể giảm chi phí và tăng doanh thu cho doanh nghiệp.
Có thể thấy, khi so sánh với nguyên vật liệu đầu vào của nguyên liệu thô, vật liệu tái chế tương đối rẻ tiền hơn. Có thể thấy, giấy tái chế có giá thấp hơn bột giấy ban đầu. Nhiều quốc gia có những chính sách khuyến khích các công ty về bao bì giấy tái sử dụng các vật liệu bị lãng phí; thêm vào đó đổi mới sản phẩm loại này sẽ được Nhà nước trợ cấp, nhờ vậy doanh thu của công ty sẽ tăng. Rao (2002) chia hoạt động quản trị chuỗi cung ứng xanh thành hai phần: quản trị môi trường bên trong và môi trường bên ngoài.
Luan van 10 • Quản trị môi trường bên trong tập trung vào các hỗ trợ và cam kết bên trong doanh nghiệp đối với hoạt động quản trị chuỗi cung ứng xanh trong việc tuân thủ các quy định, hệ thống quản lý môi trường đang hiện hành bên trong tổ chức (Zhu và Sarkis, 2004). • Quản trị môi trường bên ngoài liên quan tới việc xanh hóa các nhà cung cấp để họ cùng tham gia cùng doanh nghiệp trong việc đạt được những mục tiêu về môi trường (Bowen và cộng sự, 2001; Rao, 2002; Hamner, 2006). Hoạt động này cũng bao gồm việc mua sắm xanh, hợp tác với khách hàng, đạt được các yêu cầu về môi trường, tái cơ cấu đầu tư và ứng dụng các thiết kế sản phẩm thân thiện với sinh thái (Rao và Holt, 2005) hay cải tiến sản phẩm xanh (Chen và cộng sự, 2006). Có rất nhiều phương thức các doanh nghiệp áp dụng chuỗi cung ứng xanh và thực hiện nó cho công ty mình.
Tuy vậy, có 1 công thức khá phổ biến như sau: Hình 1.1: Mô hình áp dụng chuỗi cung ứng xanh phổ biến tại các doanh nghiệp (Nguồn: Nguyễn Vân Nhung, 2017) Chuỗi cung cứng Xanh = Mua hàng xanh + Sản xuất xanh + Phân phối xanh + Logistics ngược • Mua hàng xanh (Green Purchasing): Là hoạt động thu mua các sản phẩm có ít tác động đến sức khoẻ con người & môi trường sống, khi so sánh nó với các sản phậm & dịch vụ cạnh tranh phục vụ cho cùng 1 mục đích sử dụng. • Sản xuất xanh (Green Manufacturing/Materials Management): Cụm từ Green Manufacturing có thể được nhìn theo 2 phương diện Luan van 11 - Các nhà sản xuất trong chuỗi cung ứng tạo ra các sản phẩm “xanh” thân thiện với môi trường, đặc biệt là những sản phẩm được sử dụng trong hệ thống năng lượng tái tạo & các thiết bị công nghệ “sạch” hoặc là - Các công ty làm “xanh” bộ máy sản xuất của mình thông qua việc: Giảm ô nhiễm và chất thải bằng cách giảm thiểu sử dụng các tài nguyên cần thiết, tái chế và tái sử dụng những gì được coi là chất thải; giảm lượng khí thải trong sản xuất • Phân phối xanh (Green Distribution): Bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến: Phương thức vận chuyển/chở hàng hoá giữa các nhà cung cấp & người mua với những tác động ít nhất đến môi trường sinh thái & xã hội, bao gồm toàn bộ quá trình phân phối, từ: Lưu trữ (Storage), Xử lý đơn hàng (Order Processing), Lấy hàng (Picking) , Đóng gói (Packing), Cải thiện tải trọng của xe (Improved vehicel loading), giao hàng đến khách hàng. Ví dụ: Sử dụng các nhiên liệu thay thế khác ngoài xăng và dầu diesel để giảm thiểu việc ảnh hưởng đến môi trường. • Logistics ngược (Reverse Logistics): được hiểu là khâu tiếp nối cuối cùng trong vòng đời sản phẩm bao gồm các bước liên quan đến việc tái chế, tái sử dụng v.
và duy trì sự bền vững của sản phẩm. Logistic ngược chính là một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng xanh và việc doanh nghiệp ứng dụng logistic ngược cho thấy hoạt động của doanh nghiệp thân thiện với hệ sinh thái và hướng tới sự phát triển bền vững, từ đó, tạo sự tin tưởng và an tâm của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp (Hazen và cộng sự, 2012).2 Logistic xanh Logistic xanh mô tả các hoạt động liên quan tới việc quản trị dòng lưu chuyển xuôi và ngược của hàng hóa và thông tin từ điểm đầu tới điểm tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi cung ứng một cách hiệu quả về mặt chi phí và giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường mà vẫn đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng.