CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO CHO VAY VÀ PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, vai trò cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về cho vay Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng trên 98% các hoạt động khác của ngân hàng.
Khi nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu gửi tiền, vay tiền của người dân ngày càng cao do đó doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay cũng trở nên đa dạng hơn. Theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi .Trong phần lớn các ngân hàng hiện nay, cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và mang lại thu nhập cho chính bản thân ngân hàng đó. Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, đã định nghĩa cho vay như là “Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ cho vay.
Như vậy, các quan niệm về cho vay đều thống nhất với nội dung là: Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền cho bên kia sử dụng đúng mục đích và trong một thời gian nhất định, đồng thời cam kết hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Đây là nghiệp vụ chủ yếu khi ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho khách hàng và cũng là nghiệp vụ mang về thu nhập cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa dựng nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với ngân hàng. Do vậy các NHTM luôn phải quan tâm tới rủi ro trong cho vay nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng xảy ra khi đổ vỡ ngân hàng.Vai trò cho vay của NHTM 1.
Đối với nền kinh tế Do đặc điểm cho vay là quy mô rộng, khách hàng đa dạng mặt khác nó là hình thức kinh doanh chủ yếu của ngân hàng. Với vai trò là trung gian tài chính ngân hàng đóng vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn và người cần vốn để đầu tư. Hoạt động cho vay của ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Nó là đòn bẩy kinh tế phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa bởi đặc trưng cơ bản của tín dụng là vận động dựa trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức.
Thông qua nghiệp vụ này nhà nước có thể điều chỉnh sự phát triển cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế và thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo định hướng của nhà nước, đồng thời nó đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng, nó tác động trực tiếp tới từng ngành nghề, tới công nghệ, máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Mác đã có câu “ một mặt ngân hàng ( tài chính tín dụng) là sự tập trung tự bản tiền tệ của những người có tiền cho vay, mặt khác đó là sự tập trung những người đi vay’’. Như vậy nó góp phần làm giảm lượng tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế tác động tích cực đến nhịp độ phát triển và thúc đẩy sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Nó góp phần quan trọng thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, chống lạm phát tiền tệ. Vì thế ngân hàng giải quyết được một trong những đặc điểm của tiền là “ Tiền có giá trị theo thời gian” các nguồn vốn nhàn rỗi được tập hợp và đầu tư cho các phương án, dự án kinh doanh khác nhau đang cần vốn để thực hiện dự án.
Đây là yếu tố khó khăn, quan trọng để biến ý tưởng kinh doanh thành thực tế .Cho vay đã góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội như tăng trưởng, phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Đối với Ngân Hàng - Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động lớn của Ngân hàng doanh thu từ hoạt động này thường chiếm 95% doanh thu, ở các nước phát triển, hay đến 98% doanh thu của Ngân hàng, ở các nước đang phát triển. Hiện nay 95% doanh thu của các Ngân hàng thương mại là từ hoạt động tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn. Mặt khác, nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có 5 thể vay của Ngân hàng để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu được không những doanh nghiệp đủ tiền trả cho Ngân hàng mà còn có tiền gửi vào Ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.
Mặt khác khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng cũng phát triển. Nhưng khi ngân hàng rơi vào tình trạng tài chính khó khăn thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động cho vay. Việc ngân hàng không thu hồi được vốn có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, ví dụ như: ngân hàng buông lỏng quản lý, cho vay thiếu minh bạch, áp dụng chính sách cho vay kém hợp lý, do nền kinh tế suy giảm không lường trước được hoặc do nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng. Đối với người đi vay Đối với người đi vay, thì vốn có vai trò đặc biệt quan trọng.
Vay vốn để sản xuất kinh doanh hay để tiêu dùng cũng làm thảo mãn những nhu cầu nhất định của người đi vay. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh thì quan niệm “Buôn tài không bằng dài vốn” không bao giờ cũ. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có các kỳ hạn khác nhau. Ngắn hạn, trung han và dài hạn bên cạnh đó lãi suất linh hoạt cố định hay thả nổi… vì thế khách hàng tuỳ ý lựa chọn kỳ hạn vay và thoã thuận hình thức lãi suất vay phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình.
Mặt khác việc vay vốn ngân hàng giúp khách hàng tập trung được vốn kinh doanh đồng bộ, giảm chi phí huy động và chủ động trong việc hoàn trả gốc và lãi theo hợp đồng. Bên cạnh đó việc thoã thuận giữa ngân hàng và khách hàng khi hết hợp đồng cho vay tạo điều kiện cho khách hàng kinh doanh tiếp… như trợ giúp vốn, gia hạn. Vì vậy vay vốn được xem như đòn bẩy tài chính mà nhiều khách hàng ưa thích sử dụng nhằm làm gia tăng hiệu quả kinh doanh. Các loại cho vay 1.
Phân loại theo thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: Là những khoản vay có thời hạn đến 1 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, bảo đảm yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của người đi vay. Đây là loại cho vay có mức rủi ro thấp do thời hạn hoàn trả vốn vay nhanh. Do đó lãi suất của loại vay này thường thấp hơn các loại cho vay khác. Cho 6 vay ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cho vay của các ngân hàng thương mại.
Cho vay trung hạn: Là những khoản vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Loại cho vay này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và vừa hoặc đáp ứng các nhu cầu chi tiêu trung hạn của các hộ gia đình, cá nhân như mua bất động sản, sửa chữa nhà cửa, mua sắm phương tiện, đồ dùng sinh hoạt cho gia đình, cá nhân…. Đây là loại cho vay có mức rủi ro cao hơn loại cho vay ngắn hạn. Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn từ trên 5 năm.
Loại cho vay này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn như: xây dựng các công trình, nhà xưởng, mua sắm các tài sản cố định có giá trị lớn, có thời hạn sử dụng và thời gian thu hồi vốn dài hoặc đáp ứng các nhu cầu chi tiêu lâu dài của các hộ gia đình, cá nhân như mua bất động sản, sửa chữa nhà cửa, mua sắm phương tiện cá nhân… Đây là loại cho vay có mức rủi ro cao nhất trong các loại cho vay. Đặc điểm chung của cho vay trung và dài hạn là thời hạn cho vay dài hạn là hiệu quả đầu tư thường là dự tính, ước lượng nên chứa đựng rất nhiều rủi ro, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Các rủi ro này rất khó lượng hóa để có thể ngăn ngừa. Mặt khác, do nguồn vốn trung, dài hạn của các ngân hàng không phải lúc nào cũng dồi dào nên các loại cho vay này thường chiếm tỷ trọng ít hơn so với cho vay ngắn hạn, đặc biệt là cho vay dài hạn.
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay Cho vay sản xuất kinh doanh: Là loại cho vay đối với các chủ thể kinh tế để tiến hành đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc lưu thông hàng hóa có tính chất sinh lời. Nguồn trả nợ của loại vay này chính là dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay. Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân như mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại, các loại hàng hóa tiêu dùng. Nguồn trả nợ của loại vay tiêu dùng lại trích từ một phần hoặc toàn bộ thu nhập của người đi vay.
Phân loại theo hình thức đảm bảo tiền vay Cho vay có bảo đảm: là cho vay có tài sản đảm bảo, cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức này thường áp dụng đối với các khách hàng không đủ uy tín với ngân hàng.