CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 1. Tổng quan về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Trước tiên, tác giả làm rõ các khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng dựa trên quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để có sự nhìn nhận khái quát về các hoạt động cho vay của ngân hàng. - Khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng: Theo Nguyễn Minh Kiều (1998): “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.” Theo Hồ Diệu (2000): “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.” Theo Nguyễn Minh Kiều (2009): “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.” Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009): “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các tổ chức kinh tế, các tổ chức kinh tế và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng trên.” Theo Jonothan Golin (2010): “Tín dụng là niềm tin hoặc kỳ vọng thực tế, khi đó người đi vay sẵn sàng cho vay và sẽ được hoàn trả đầy đủ theo quy định của 1 thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay vốn và rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra.” Theo Nguyễn Đức Tú (2012): “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng, trong đó bên cho vay là các TCTD và bên đi vay là các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội.” Như vậy, có nhiều định nghĩa và cách hiểu về tín dụng ngân hàng, nhưng chung quy lại thì nó hàm chứa ba nội dung chính sau: Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ sở hữu sang người sử dụng.
Sự chuyển nhượng này có thời hạn. Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. - Khái niệm cho vay tiêu dùng: Qua lược khảo lý thuyết liên quan về chủ đề tín dụng ngân hàng, tác giả nhận thấy hiện nay có nhiều khái niệm về CVTD. Tiêu biểu như: Finlay (2005) cho rằng: “CVTD chính là việc các tổ chức tín dụng cung cấp cho một cá nhân hoặc hộ gia đình tiền hoặc thanh toán chi phí mua hàng hoá dịch vụ của họ, bao gồm các hình thức: thẻ tín dụng, cho vay thế chấp v.v… đây là những hình thức phổ biến nhất của CVTD.” Cho vay tiêu dùng là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của khách hàng (Trần Huy Hoàng và cộng sự, 2011).
Như vậy, CVTD là hình thức cấp tín dụng của NHTM trong đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Những khoản CVTD được dành nhiều vào các mục đích như: mua nhà, xây sửa nhà, mua xe hơi, các dụng cụ trong gia đình, đồ gỗ, các dịch vụ y tế, chi phí cho các dịp lễ. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Như vậy, qua lược khảo các khái niệm liên quan đến tín dụng ngân hàng ở trên, có thể nhận thấy hiện nay các NHTM có rất nhiều hình thức cho vay như: cho vay kinh doanh đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, 1 cho vay kinh doanh đối với cá nhân và hộ gia đình, CVTD hỗ trợ các nhu cầu mua sắm, chi tiêu…, trong đó, CVTD là hình thức tín dụng ngày càng được ưa chuộng ở các NHTM. Bên cạnh các khoản cho vay sản xuất kinh doanh, CVTD ngày càng trở nên phổ biến hơn trong xã hội khi mà mức sống tăng lên và nhu cầu về các tiện nghi cho cuộc sống hiện đại cũng ngày càng lớn hơn.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2014), CVTD sở hữu các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, đối tượng được cấp tín dụng: là người tiêu dùng bao gồm các cá nhân và hộ gia đình. Thứ hai, mục đích tín dụng: để mua hàng hoá và dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng, chứ không phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh. Các hàng hoá và dịch vụ chủ yếu gồm: nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, giáo dục, y tế, du lịch,… Thứ ba, quy mô các món vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay lại lớn. Xuất phát từ đối tượng vay là khách hàng cá nhân và hộ gia đình với mục đích vay là để tiêu dùng nên nhu cầu vay của họ thường nhỏ lẻ để trang trải cho nhu cầu cá nhân hay hộ gia đình, do đó, quy mô các khoản vay không lớn.
Do các món vay có giá trị nhỏ, nên chi phí tổ chức cho vay cao, đây là một trong những nguyên nhân khiến cho lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại hay công nghiệp. Thứ tư, CVTD có rủi ro cao hơn so với cho vay thương mại hay công nghiệp, bởi vì các khoản vay tiêu dùng không những chịu rủi ro của các nhân tố khách quan mà còn chịu rủi ro xuất phát từ bản thân khách hàng như điều kiện tài chính của các cá nhân hay hộ gia đình có thể thay đổi bất lợi rất nhanh do bệnh tật, tai nạn, thấy nghiệp hay các bi kịch gia đình. Đây là lý do tiếp theo tại sao lãi suất cho vay tiêu dùng thường là cao hơn so với các loại cho vay khác. Thứ năm, thời hạn cho vay thường ngắn nên lãi suất cho vay tiêu dùng thường là cố định, do đó không phản ánh được những thay đổi của thị trường, điều này khiến cho các hợp đồng cho vay tiêu dùng bộc lộ rủi ro lãi suất là rất lớn.
Thứ sáu, nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất. Xuất phát từ giá trị khoản vay thường nhỏ, nên thông thường người đi vay quan 1 tâm đến số tiền phải thanh toán định kỳ (hàng tháng) hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Thứ bảy, Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi kinh tế tăng trưởng, người dân lạc quan về thu nhập trong tương lai nên có xu hướng tăng chi tiêu cho tiêu dùng, kích thích tín dụng tiêu dùng tăng trưởng; ngược lại khi kinh tế suy thoái thu nhập của người dân giảm, họ bi quan lo lắng về nguy cơ thấy nghiệp nên có xu hướng tiếu kiệm, chi tiêu ít hơn,… khiến cho tín dụng tiêu dùng giảm xuống.
Thứ tám, mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có mối quan hệ mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng. Thu nhập càng cao thì chi tiêu cũng càng lớn, nên việc được vay mượn xem như công cụ để đạt được mức sống cao hơn, tiện nghi hơn, chứ không đơn thuần chỉ là ăn no mặc ấm. Với trình độ học vấn cao hơn, thì thu nhập cũng cao hơn, làm cho các khoản vay của họ trở nên an toàn hơn không chỉ vì có nguồn trả nợ tốt mà còn an toàn về nhận thức, tư cách đạo đức của người vay. Học vấn cao thường nhận được sự tin tưởng của ngân hàng nên họ dễ dàng được vay và có xu hướng vay được nhiều hơn.
Ngược lại, những người có học vấn thấp thì có xu hướng vay khó hơn, số tiền vay được ít hơn, chịu sự giám sát chặt chẽ của ngân hàng, thậm chí không được ngân hàng cấp tín dụng. Thứ chín, chất lượng thông tin tài chính của khách hàng thường không cao. Điều này là vì các công ty muốn vay ngân hàng phải xuất trình các báo cáo tài chính và thường phải có xác nhận của công ty kiểm toán, trong khi đó những thông tin tài chính cá nhân rất khó kiểm chứng. Thứ mười, tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác địn, song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
Cũng như bất kỳ khoản cho vay nào, đây là chỉ tiêu quan trọng để ngân hàng thẩm định trước khi quyết định cho vay. Đối với cho vay tiêu dùng, thì tư cách người vay lại càng có vai trò quan trọng, nhưng do tư cách người vay là nhân tố định tính nên rất khó xác định chính xác. Tư cách người vay quyết định tới việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và là yếu tố quyết định thiện chí hoàn trả khoản vay. Do đó tư cách của người vay càng được 1 đánh giá cao, thì khả năng trả nợ của khách hàng càng cao, giảm được rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Lợi ích của cho vay tiêu dùng Có thể thấy rằng, CVTD ngày càng trở nên phổ biến hơn trong xã hội khi mà mức sống của người dân ngày càng tăng lên và nhu cầu về các tiện nghi cho cuộc sống hiện đại cũng ngày càng lớn hơn. Những khoản CVTD được dành nhiều vào các mục đích như: mua nhà, xây sửa nhà, mua xe hơi, các dụng cụ trong gia đình, đồ gỗ, các dịch vụ y tế, chi phí cho các dịp lễ…, do vậy, việc phát triển CVTD không những tác động tới người tiêu dùng, người sản xuất, NHTM mà còn cả nền kinh tế. Theo Nguyễn Văn Tiến (2014) cụ thể: ✓ Đối với nền kinh tế: Thông qua tài trợ cho tiêu dùng, thực chất ngân hàng đã gián tiếp tài trợ cho sản xuất của các doanh nghiệp. Khi tiêu dùng được thúc đẩy (kích cầu), theo đó sản xuất của các doanh nghiệp cũng phát triển theo, kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động.
Đối với người tiêu dùng: Thông qua cho vay tiêu dùng, họ được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền, nâng cao chất lượng cuộc sống, cho pháp họ chi tiêu ở hiện tại và thanh toán trong tương lai, nó đăc biệt quan trọng đối với giới trẻ.