phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng tiêu dùng của NHTM; Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội; Chƣơng 3: Giải pháp hạn chế RRTDTD tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và vai trò của tín dụng tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại a.
Khái niệm tín dụng tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng là một hình thức của Tín dụng nói chung. Vậy tín dụng là gì? Tính đến thời điểm hiện tại, có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng. Theo lịch sử ra đời của tín dụng, ban đầu khái niệm đơn giản về tín dụng là: “Tín dụng là những quan hệ vay mƣợn có sự hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, sự thoả thuận giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay về số tiền vay, lãi suất, thời hạn và phƣơng thức trả nợ (trả một lần hay trả dần)” (Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự, 2014). Nhƣng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đơn giản này thì tín dụng mới chỉ phản ánh ở một khía cạnh nào đó, còn mang tính chất chung chung, chƣa bao trùm đƣợc cái tổng thể của tín dụng.
Do vậy về sau khái niệm tƣơng đối đầy đủ về tín dụng nhƣ sau: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị (dƣới hình thức tiền tệ hay hiện vật) từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu” (Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự, 2014). Theo Phan Thị Thu Hà (2009), một quan hệ tín dụng phải thoả mãn: “(i) Là quan hệ chuyển nhƣợng giá trị mang tính chất tạm thời; (ii) Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị; (iii) Quan hệ tín dụng đƣợc xây dựng trên cơ sở sự tin tƣởng giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay.” Tóm lại, tín dụng của NHTM có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: là quan hệ/hình thức tín dụng tiền tệ, trong đó các NHTM cho vay các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế bằng tiền. Nói cách khác, chủ thể của tín dụng ngân hàng là các NHTM và các đối tƣợng khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp), đối tƣợng vay mƣợn là tiền tệ - khác với các loại hình tín dụng khác nhƣ tín dụng thƣơng mại, tín dụng nhà nƣớc hay tín dụng thuê mua. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả nghiên cứu về hình 8 thức tín dụng tiêu dùng (hay còn gọi là tín dụng tiêu dùng) đối với khách hàng cá nhân/hộ kinh doanh (ngƣời tiêu dùng).
Là một hình thức của tín dụng, tín dụng tiêu dùng là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những ngƣời này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ. Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch. cũng có thể đƣợc tài trợ bởi TDTD.
Nghiệp vụ tín dụng xét theo khía cạnh đơn thuần đối với khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh thì đƣợc hiểu là nghiệp vụ cho vay. Do vậy, tín dụng tiêu dùng đƣợc nghiên cứu tại công trình này đƣợc hiểu là nghiệp vụ cho vay đối với mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng cá nhân, hộ gia đình. Vai trò của tín dụng tiêu dùng - Đối với Ngân hàng thương mại: Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại là hoạt động chiếm thị phần cao nhất mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Do đó, các ngân hàng đã hƣớng mục tiêu vào lĩnh vực này và tín dụng tiêu dùng đã trở thành một loại sản phẩm tài trợ vốn phổ biến, mang lại thu nhập và lợi nhuận cao cho các ngân hàng.
Mặc dù quy mô các khoản tài trợ không lớn nhƣng với số lƣợng rất lớn dẫn đến tổng tài trợ không hề nhỏ. Bên cạnh đó, lãi suất của các khoản tài trợ này khá cao do ngƣời tiêu dùng chủ yếu quan tâm đến mục đích vay vốn của bản thân là chủ yếu. - Đối với nền kinh tế, xã hội: Sự phát triển của một nền kinh tế đƣợc thể hiện rõ qua mức cầu về hàng hoá tiêu dùng của dân cƣ. Việc phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng của các NHTM sẽ tăng trƣởng nhu cầu tiêu dùng của dân cƣ, kích cầu từ đó làm cho nền kinh tế năng động hơn.
Khi cầu hàng hoá tăng lên sẽ kích thích sản xuất, kích thích các hoạt động kinh tế thƣơng mại dịch vụ có liên quan, nhờ đó nhu cầu lao động tăng lên, giải quyết vấn đề việc làm của xã hội. - Đối với cá nhân, hộ kinh doanh: Tín dụng tiêu dùng có vai trò quan trọng đối với các cá nhân, hộ kinh doanh có tài chính ở mức thấp và trung bình. Nhờ có tín dụng tiêu dùng mà họ đƣợc tiếp cận với các sản phẩm hàng hoá tiêu dùng luôn 9 trong khi chƣa cần có đủ tài chính để mua sản phẩm hàng hoá đó nhƣ ô tô, nhà cửa, đồ dùng gia đình,… 1. Phân loại tín dụng tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng tiêu dùng.
Trong phạm vi nội dung của công trình nghiên cứu, tín dụng tiêu dùng đƣợc phân loại theo các căn cứ cụ thể sau: a. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Căn cứ vào uy tín của khách hàng vay, ngân hàng có thể chia thành 2 loại sau: Tín dụng tiêu dùng có tài sản đảm bảo. Tín dụng hay Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các hình thức bảo đảm nhƣ thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Theo căn cứ này, có thể chia thành 3 loại sau: - Tín dụng cầm cố.
Tín dụng cầm cố là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền trên cƣ sở giữ tài sản của khách hàng để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ của khách hàng trong hợp đồng cầm cố. Tài sản cầm cố là động sản, là tài sản có giá trị mua bán, trao đổi nhƣ: giấy tờ có giá, vàng bạc, đá quý,. - Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản của chính người vay hoặc bên thứ ba. Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên cơ sở thế chấp tài sản của chính ngƣời vay hoặc của bên thứ ba.
- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay. “Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng” (TS Nguyễn Minh Kiều, 2009). Tín dụng tiêu dùng không có tài sản đảm bảo. Tín dụng tiêu dùng không có tài sản bảo đảm là loại tín dụng cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng và khả năng tài chính của ngƣời vay trong tƣơng lai.
Nguồn tài chính để chứng minh có thể là lƣơng, tiền cho thuê tài sản hoặc một nguồn thu nhập tƣơng tự. Nhƣ vậy, ngân hàng sẽ ƣu tiên đối với những khách hàng có nguồn tài chính ổn định, thu nhập của khách hàng ngoài việc đủ trang trải các chi tiêu thƣờng xuyên còn có đủ 10 tích luỹ để trả nợ vay (nhƣ công chức, viên chức. Ở đây, lƣơng hay các thu nhập tƣơng tự chỉ là căn cứ để xác định nguồn trả nợ trong tƣơng lai. Căn cứ vào mục đích vay Dựa vào mục đích vay, ta có thể chia TDTD thành hai loại chủ yếu sau: Tín dụng tiêu dùng cư trú: “ TDTD cƣ trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc/và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình” (TS Hồ Diệu, 2001).
Những món vay này thƣờng có giá trị lớn và thời gian dài. Việc định giá tài sản tài trợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Tín dụng tiêu dùng phi cư trú: “TDTD phi cƣ trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch…” (TS Hồ Diệu, 2001). Những khoản tín dụng này thƣờng có giá trị nhỏ, thời gian tài trợ ngắn, do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản TDTD cƣ trú.
Có thể thấy một số loại hình TDTD phi cƣ trú nhƣ: - Cho vay du học: Là khoản cho vay đối với thân nhân của những ngƣời đi du học nhằm mục đích hỗ trợ tài chính cho ngƣời đi du học (tại chỗ hoặc nƣớc ngoài). - Cho vay mua xe ô tô: Là khoản cho vay đối với cá nhân có nhu cầu mua ô tô phục vụ cho việc đi lại của cá nhân và gia đình. - Cho vay hỗ trợ tiêu dùng khác: Là các khoản vay để phục vụ cho các mục đích đa dạng khác nhƣ chữa bệnh, đi du lịch, mua sắm đồ dùng gia đình,… c. Căn cứ vào phương thức hoàn trả Căn cứ vào phƣơng thức hoàn trả, có thể chia TDTD thành 3 loại chủ yếu sau đây: Tín dụng tiêu dùng trả góp.
“Đây là hình thức TDTD trong đó ngƣời đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phƣơng thức này thƣờng đƣợc áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc/và thu nhập định kỳ của ngƣời đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay” (TS Hồ Diệu, 2001). “Thiện chí trả nợ của ngƣời vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tƣơng lai” (TS Hồ Diệu, 2001). Tín dụng tiêu dùng phi trả góp.
“Theo phƣơng thức này tiền vay đƣợc khách 11 hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn”. “Thƣờng thì các khoản tín dụng tiêu dùng phi trả góp chỉ đƣợc cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài” (TS Hồ Diệu, 2001).