đặt vấn đề và phân tích về khái niệm tín dụng đối với KHCN, một khái niệm tưởng chừng như quen thuộc nhưng thực tế rất khó tìm thấy một tài liệu nào định nghĩa cụ thể rủi ro hoạt động tín dụng KHCN là gì? Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần hình thành một khái niệm cụ thể về rủi ro hoạt động tín dụng KHCN dựa trên cơ sở chắt lọc và tổng hợp nhiều ý kiến khác nhau từ các nguồn tài liệu, sách báo về các vấn đề có liên quan; và cả theo quan điểm của cá nhân người thực hiện đề tài. - Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp cho nhà quản trị ngân hàng một cách nhìn tích cực về vấn đề rủi ro hoạt động tín dụng KHCN. Đồng thời đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp một số các giải pháp được xem như là công cụ để kiểm soát rủi ro hoạt động tín dụng KHCN tại ngân hàng chọn làm đối tượng nghiên cứu là BIDV Đồng Nai. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Từ khi Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra đời và có một số sửa đổi trong Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, sau đó Thông tư số 02/2016/TT-NHNN ngày 21/01/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thay thế cho Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 18/2007/QĐ- NHNN thì rủi ro càng trở thành vấn đề quan tâm của các ngân hàng và những người quan tâm.
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng, đó là các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài như sau: - Lê Đức Thọ (2015), “Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Nội dung đề tài đã đề cập đến thực trạng hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại nhà nước và những tác động tới quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới hoạt động tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam, nêu lên được những nguy cơ tiền ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng và giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại.
- Lê Thị Huyền Diệu (2010), Luận cứ khoa học về xác dịnh mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội. Nội dung đề tài chủ yếu xem xét những lý thuyết cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ rủi ro giao dịch, chưa đi sâu vào các góc độ khác của rủi ro tín dụng, cũng như đề ra các giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng. Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn trước và sau năm 2000, khi hệ thống văn bản pháp luật đang được dần hoàn thiện, chính sách cho vay chưa đạt được tầm chiến lược, chưa đạt được nguyên tắc thị trường, nên một số nội dung thực hiện đã không còn phù hợp với các ngân hàng trong giai đoạn hiện nay. 6 - Nguyễn Đức Tú (2015), Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Luận án dựa trên những nguyên lý cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. Chỉ ra những mặt đã đạt được và những hạn chế trong công tác quản trị tín dụng tại ngân hàng Công Thương Việt Nam. Luận án nghiên cứu tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng Công Thương trong giai đoạn 2008-2011, là giai đoạn ngân hàng chưa áp dụng mô hình quản trị theo Basel II, chính vì vậy, luận án tiếp cận và phân tích thực trạng rủi ro nhằm đề xuất những mô hình thích hợp để ngân hàng Công Thương có thể áp dụng nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro. - Thân Thị Thanh Thảo (2010), Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng.
Nội dung đề tài nghiên cứu khá kĩ lưỡng nên nhìn chung đề tài đã đưa ra được những khái niệm cơ bản nhất về tín dụng, rủi ro tín dụng, những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng, phân loại rủi ro tín dụng, các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các tiêu chí để đánh giá rủi ro tín dụng, cũng như đề cập đến sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng, đưa ra được các dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng, từ đó đề ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong ngân hàng. - Tiến sĩ Phạm Huy Hùng (2015), Phương pháp quản trị rủi ro thị trường tại các NHTM Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Hội đồng khoa học và công nghệ ngân hàng. Nội dung của đề tài đề cập đến các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chủ yếu tập trung vào phân tích rủi ro danh mục cho vay chứ không luận bàn đến rủi ro giao dịch hay đưa ra các khía cạnh liên quan tổng thể đến tín dụng, chưa đề ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong NHTM.
- Nguyễn Thị Thu Trâm (2017), “ Quản trị rủi ro tín dụng KHCN tại sở giao dịch II ngân hàng Công Thương Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung của luận văn, tác giả đã hệ thống hóa lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng KHCN trong hoạt động ngân hàng và những yêu cầu đối với ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tại ngân hàng Công Thương Việt 7 Nam. 8 - Lê Thị Hồng Điều (2018), “Quản trị rủi ro tín dụng KHCN tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn đúc kết lại những lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng, đặc biệt trong đó tác giả đã hệ thống nội dung quản trị rủi ro tín dụng KHCN ở các bước cơ bản: Nhận biết rủi ro, đo lường rủi ro, quản lý rủi ro, kiểm soát rủi ro và xử lý nợ. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra các phương pháp quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 1, tiếp cận rủi ro tín dụng theo Basel 2, các biện pháp phòng ngừa, khắc phục và xử lý đối với các nhóm dấu hiệu quản trị rủi ro tín dụng. - Nguyễn Quang Vinh (2017), “Quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Ngoại thương, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung của luận văn chỉ tập trung phân tích về rủi ro tín dụng mà chưa đi sâu vào nghiên cứu những nội dung chính trong quản trị rủi ro tín dụng cũng như các chuẩn mực đánh giá về quản trị rủi ro tín dụng, đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng.
- Đặng Thị Thu Hà (2017), “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Đại Dương”, luận văn thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà nội. Luận văn đúc kết lại những lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng, tập trung nghiên cứu vấn đề quản trị rủi ro tín dụng, đi sâu vào phân tích các quy trình cấp tín dụng, các văn bản quy chế hiện đang áp dụng tại ngân hàng TMCP Đại Dương. Luận văn đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng thông qua một số công cụ đo lường quản trị rủi ro tín dụng như: Xếp hạng khách hàng, kiểm tra giám sát tín dụng, v., tuy nhiên vẫn chưa nghiên cứu đến mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiện nay của ngân hàng TMCP Đại Dương. - Vũ Huy Phúc (2017), nghiên cứu về rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp phòng ngừa.
Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng cá nhân trong hoạt động cho vay và đầu tư từ nhiều mức độ khác nhau, đề tài vận dụng nhiều mô hình để đánh giá như: mô hình phản ảnh về mặt số lượng, mô hình phản ảnh về mặt chất lượng của tín dụng, mô hình điểm số Z. Bên cạnh đó đề tài cũng đã phân tích những nguyên nhân chủ quan và khách quan gây ra rủi ro tín dụng trong hệ thống BIDV: sự thay đổi của môi trường tự nhiên, môi trường pháp lý, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thị trường tiền tệ chưa phát triển, thị 9 trường chứng khoán chưa phải là kênh huy động vốn phục vụ cho đầu tư phát triển, cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa lành mạnh, việc chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, v., trên cơ sở đó đề tài đưa ra những giải pháp nhằm về tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Đề tài kết hợp những nguyên nhân chủ quan và khách quan phát sinh, riêng về phần nghiên cứu định lượng được đo lường bằng mô hình điểm số Z. Tác giả đã áp dụng mô hình điểm số Z vào nghiên cứu mà bỏ qua sự khác biệt giữa 2 quốc gia Việt Nam và Mỹ, nói cách khác các hệ số của mô hình Z có thể đúng với các doanh nghiệp ở Mỹ chứ không đúng với mô hình ở Việt Nam, hơn nữa mô hình đó đã được Altman xây dựng từ cách đây đã lâu nên có thể không còn chính xác với tình hình hiện tại.