phần Mở đầu và kết luận, nội dung luận án dự kiến gồm 3 chƣơng. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học sinh trong dạy học Giải tích ở trƣờng Trung học phổ thông. Thực nghiệm sƣ phạm.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về siêu nhận thức 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về siêu nhận thức 1. Nghiên cứu về nguồn gốc của khái niệm siêu nhận thức Năm 1971, J.
Flavell đƣa ra khái niệm “siêu trí nhớ (metamemory) đƣợc giải thích là khả năng quản lý và điều khiển việc đƣa vào, lƣu trữ, tìm kiếm và truy xuất các nội dung trong bộ nhớ riêng của mình (J. Qua đó, tác giả đã đƣa ra một HĐ vô cùng sâu rộng gắn với việc nghiên cứu các khái niệm tƣơng tự (các năng lực siêu ngôn ngữ, siêu trí nhớ, siêu động cơ. Đến năm 1976, khái niệm SNT đƣợc ông khái quát lên nhƣ là tư duy về tư duy, nhận thức về nhận thức (thinking aboutthinking, cognition of cognition) của bản thân một con ngƣời (J. Nói cách khác SNT là suy nghĩ của chủ thể nhận thức về chính suy nghĩ của họ.
Đồng thời, ông cũng khẳng định SNT có vai trò quan trọng trong giáo dục. Ông định nghĩa SNT nhƣ sau: SNT là kiến thức của một ngƣời liên quan đến quy trình và sản phẩm hoặc bất cứ điều gì liên quan đến nhận thức của mình [125, tr. Với việc đƣa ra thuật ngữ "SNT" và công bố những nghiên cứu đầu tiên, Flavell đã tạo ra một xu hƣớng nghiên cứu mới đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm. Brown khẳng định rằng trẻ em cũng có thể tự đánh giá khả năng của mình trong việc nhớ lại những dữ kiện đơn giản và bà mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của SNT [104].
Bà đã cung cấp những ý tƣởng SNT trong việc đọc và phân biệt giữa nhận thức và SNT. Nghiên cứu này đã xác định quá trình SNT là quá trình độc giả điều khiển các chiến lƣợc bao gồm lựa chọn và nghiên cứu những phần quan trọng của văn bản, chọn ý chính, kết quả và chuẩn bị sẵn sàng cho việc kiểm tra, đánh giá [105]. Hơn nữa trong nghiên cứu này bà còn cho rằng điều quan trọng chính là kiến thức về nhận thức của chính mình chứ không phải là nhận thức về bản thân. Bà định nghĩa SNT nhƣ những kỹ năng điều hành, góp phần dự đoán, giám sát, kiểm tra thực tế, phối hợp và kiểm soát các nỗ lực để tìm hiểu hoặc GQVĐ và việc sử dụng chúng đúng lúc và đúng chỗ.
Bà đã nhận định SNT và xác định một số yếu tố chính của vấn đề này: “SNT là sự linh hoạt về kiến thức và sự điều khiển quá trình nhận thức của một ngƣời [105]. Schoenfeld đã đƣa ra phân tích một cách toàn diện nhất về SNT, theo Schoenfeld (1987, 1992), SNT là suy nghĩ về suy nghĩ của chúng ta và nó bao gồm 7 ba khía cạnh quan trọng sau đây: kiến thức về quá trình suy nghĩ của chúng ta, kiểm soát hoặc tự điều chỉnh niềm tin và trực giác. Trong quá trình giải quyết một vấn đề, họ phải đƣợc giám sát và theo dõi sự tiến bộ đến một giải pháp. Khi quyết định làm việc, họ nên cố gắng lựa chọn thay thế khác hoặc thực hiện một số điều chỉnh.
Sau khi, có quyết định để đi đến lựa chọn thay thế mới, thực hiện công việc không cần nên bỏ đi. Luôn luôn nỗ lực và sẵn sàng điều chỉnh sao cho dẫn tới thành công. Theo Franz Emanuel Weinert (1998) khái niệm SNT đƣợc hiểu là các kiến thức, kỹ năng và thái độ hiện có, cần thiết và có tác dụng hỗ trợ để đề ra những quyết định chiến lược (tiềm ẩn hay biểu lộ ra bên ngoài) trong khi học tập, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện theo hành động của chúng (theo [98, tr. Ngoài ra, SNT còn đƣợc Wellman định nghĩa là: “một hình thức của nhận thức, là quá trình tƣ duy bậc hai hay cấp độ tƣ duy cao hơn, nó liên quan đến hoạt động điều khiển bên ngoài quá trình nhận thức.
Siêu nhận thức cũng có thể đƣợc hiểu là tƣ duy về tƣ duy hay nhận thức về nhận thức của một ngƣời (Wellman, 1985). Nhƣ vậy, qua nghiên cứu về nguồn gốc của khái niệm siêu nhận thức cho thấy trƣớc năm 1976 các nhà tâm lý học đã có những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này nhƣng chƣa đƣa ra khái niệm siêu nhận thức một cách rõ ràng. Mãi đến năm 1976 khái niệm siêu nhận thức mới chính thức đƣợc đƣa ra bởi nhà tâm lý học phát triển J. Flavell ngƣời Mỹ.
Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đƣa ra khái niệm về siêu nhận thức, tuy có khác so với J. Flavell song về cơ bản đều thống nhất rằng: Siêu nhận thức là suy nghĩ về quá trình nhận thức, nó kiểm soát, chỉ đạo các thao tác tƣ duy của con ngƣời. Một số nghiên cứu về siêu nhận thức trong giáo dục Qua kết quả nghiên cứu trên, có thể thấy SNT đã đƣợc quan tâm nghiên cứu từ năm 1096, tuy nhiên việc nghiên cứu để ứng dụng vào trƣờng học bắt đầu khá muộn. Trong đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu nhƣ: Schneider, Wolfgang, và Pressley, Michael (1987) nghiên cứu về quá trình rèn luyện kỹ năng SNT của HS.
Nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra rằng, khi học một kỹ năng SNT, HS thƣờng tiến hành theo các bƣớc sau (xem [149]): i) HS chủ động lập kế hoạch để học tập quá trình SNT. Khi học biết rằng SNT sẽ mang lại lợi ích cho họ 8 ii) HS tập trung chú ý vào những gì hữu ích từ SNT mạng lại. Sự tập trung chú ý phù hợp, cần thiết này đƣợc đặt vào bộ nhớ thông tin làm việc. Đôi khi sự tập trung và chú ý này có thể xảy ra thông qua các mẫu và đôi khi nó xảy ra trong kinh nghiệm cá nhân; iii) HS tự nói chuyện với mình về những gì diễn ra trong quá trình SNT.
Cuộc trao đổi này có thể nảy sinh trong quá trình tƣơng tác giữa chủ thể nhận thức với những ngƣời khác. Điều này là rất cần thiết, vì lời tự sự này giúp cho nhiều mục đích trong việc điều chỉnh quá trình nhận thức: iv) Trong thực tế, HS sử dụng quá tình SNT nhƣng không hề hay biết mình đang sử dụng quá trình này. Qua kết quả nghiên cứu của Borkowski và Muthukrishma (1992) cho thấy rằng: Lý thuyết SNT có thể hỗ trợ tốt cho GV trong việc tạo ra môi trƣờng lớp học tập trung vào việc học các chiến lƣợc trong đó sự linh hoạt và sáng tạo. Trong đó, ý nghĩa của việc học nằm giữa mục tiêu của cá nhân và kết quả đạt đƣợc.
Ý nghĩa, đó gắn liền với ý thức của chủ thể nhận thức nhƣ: Tƣ duy của đầu óc, ý thức về bản thân, ý thức về ý định của mình. Tác phẩm cũng đã nêu lên vai trò của SNT đối với việc học tập của HS. Artz và Armour -Thomas (1998) đã nghiên cứu về ảnh hƣởng của khả năng SNT của GV đối với HS trong dạy Toán. Sau một thời gian theo dõi 07 GV mới dạy Toán, dựa trên quan sát GV dạy, xem giáo án, băng ghi hình và băng ghi âm các cuộc phỏng vấn có nội dung liên quan, họ kết luận rằng SNT của GV có ảnh hƣởng đến khả năng GQVĐ của HS.
Điều này khẳng định rằng, một GV phải nắm rõ các chiến lƣợc SNT và có các kỹ năng SNT thí mới có thể dạy cho HS một cách hiệu quả [100]. Phakiti (2003) đã nghiên cứu về SNT, cụ thể tác giả đã nghiên cứu về hai khía cạnh của SNT: Chiến lƣợc hoạch định và chiến lƣợc giám sát. Trong đó, chiến lƣợc hoạch định giúp xác định nguồn để giải quyết nhiệm vụ, thiết lập kế hoạch hoàn thành nhiệm vụ còn chiến lƣợc giám sát giúp xác định các đặc điểm của nhiệm vụ, kiểm tra tiến độ, đánh giá tiến độ và dự đoán kết quả. Chuyên khảo “Phương pháp học tập tối ưu” của Ủy ban khoa học về hành vi - Xã hội và Giáo dục cũng đề cập đến một số nội dung của lý thuyết SNT, trong đó tác giả cho rằng “Một phương pháp giảng dạy mang tính SNT có thể giúp HS 9 học được cách kiểm soát việc học của mình bằng cách xác định mục tiêu và theo dõi tiến trình đạt mục tiêu” [96, tr.
Ngoài ra, John Dewey (2013) trong “How we think” (Cách ta nghĩ) đã nêu ra khái niệm“Reflective thinking” (tƣ duy phản tỉnh, tƣ duy phản chiếu) là “những suy tính, đắn đo, tích cực, bền bỉ và cẩn trọng đối với bất cứ niềm tin hoặc hình thức nào của tri thức dưới sự soi tỏ của những căn cứ nâng đỡ nó và những kết luận mà nó có xu hướng giải phóng [18]. Từ đó, Dewey khẳng định: “duy trì trạng thái hoài nghi và liên tục tra vấn một cách có hệ thống - đây chính là những thành tố cơ sở của tƣ duy. Một trong những tác giả có những nghiên cứu về nhận thức đó là Jean Piaget, ông nhận định: “Tri thức không phải sự sao chép hiện thực” [63]. Để đƣợc trải nghiệm, thử thách, đánh giá, nhận xét về bản thân mình và xem HS khác GQVĐ nhƣ thế nào thì các HS cần có sự tƣơng tác với GV và các HS khác.
Piaget quan tâm đến nghiên cứu về trí tuệ, đặc biệt là tƣ duy của trẻ em đang ngồi trên ghế nhà trƣờng. Theo tác giả, “sự phát sinh, phát triển của các chức năng trí tuệ là quá trình tổ chức sự thích nghi của cơ thể, thông qua các HĐ đồng hóa và điều ứng nhằm tạo lập các trạng thái cân bằng tạm thời giữa hai quá trình này. Đó chính là quá trình hình thành và tổng hợp các sơ đồ trí tuệ của cá nhân” [65]. Nhƣ vậy, các tác giả ngoài nƣớc đã nghiên cứu về sự ảnh hƣởng của SNT đối với hoạt động giáo dục, cụ thể là quá trình dạy và học của thầy và trò trong nhà trƣờng.
Các tác giả chú trọng vào việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển các kĩ năng SNT cho HS và vai trò, ý nghĩa của SNT mang lại. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự ảnh hƣởng của GV đối với HS trong quá trình rèn luyện cho HS các khả năng lựa chọn chiến lƣợc, theo dõi, điều chỉnh, dự đoán và đánh giá quá trình GQVĐ.