Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và thành phần của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự 1. Khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Đương sự là người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết ” [93, tr. Như vậy, theo nghĩa này đương sự là con người cụ thể, là đối tượng của bất kỳ một vụ việc nào đó được cơ quan có thẩm quyền đưa ra giải quyết căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật.
Và có thể thấy chủ thể là cá nhân, là con người cụ thể đóng vai trò quan trọng để hình thành khái niệm đương sự. Tuy nhiên, định nghĩa trên chưa thể hiện rõ nhóm chủ thể trong thực tế có thể được công nhận có tư cách đương sự, đó là pháp nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác. Cũng tương tự như Từ điển tiếng Việt, Từ điển Luật học đã đưa ra khái niệm về đương sự như sau: “Đương sự là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một việc khiếu nại, hoặc một vụ án. Trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động thì đương sự bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền, nghĩa vụ có liên quan” [58, tr.
Trong từ điển Luật học nước ngoàiBlack’s Law Dictionnary, “đương sự” được định nghĩa là “người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện” [94, tr. Các định nghĩa này một lần nữa cho rằng đương sự là con người cụ thể, là cá nhân mà không có chủ thể là pháp nhân, tổ chức. Một quan điểm khác cho rằng: Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến VVDS. Từ các quan điểm trên thấy rằng, mặc dù chưa xác định rõ nhóm chủ thể trong thực tế có thể được công nhận có tư cách đương sự trong TTDS nhưng về cơ bản đều xác định đương sự trong TTDS phải là những “người” tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, việc dân sự vì có quyền, nghĩa vụ được giải quyết.
Theo cuốn Từ điển Luật học của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thì đương sự được giải thích như sau: “Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với 6 luan an tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, VKS, người làm chứng, người phiên dịch” [86, tr. Ở khái niệm này, đã làm rõ hơn một bước về thành phần đương sự trong TTDS.
Theo đó, đương sự được xác định là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động và bao gồm nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, quan niệm này lại chỉ xác định đương sự trong phạm vi gắn với vụ kiện về dân sự, tức là đương sự trong vụ án dân sự. Cũng có quan điểm khác lại cho rằng: Đương sự chỉ bao gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án dân sự, còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - chủ thể đặc biệt trong TTDS không phải là đương sự, không nằm trong khái niệm đương sự. Qua nghiên cứu cho thấy khái niệm đương sự phản ánh mối quan hệ giữa họ với các chủ thể khác trong TTDS.
Họ vừa là chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS vừa là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung được TA xem xét, giải quyết trong VVDS. Nếu quan niệm thành phần đương sự chỉ bao gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án dân sự thì một số người có quyền, lợi ích liên quan đến VVDS, được xem xét trong VVDS như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, người yêu cầu, người bị yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự sẽ không được coi là đương sự và không bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Do đó đương sự trong một vụ việc phải bao gồm tất cả những người có quyền, nghĩa vụ được xem xét trong vụ việc đó. Vì vậy, thành phần đương sự cần phải được hiểu rộng hơn không chỉ nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự mà còn bao gồm cả những người khác có quyền, lợi ích được TA xem xét trong việc dân sự.
Các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước Bộ luật TTDS năm 2015 không có quy định về đương sự trong việc dân sự mà chỉ quy định đương sự trong vụ án dân sự. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 56 BLTTDS năm 2004 quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, 7 luan an nghĩa vụ liên quan”. Mặc dù tại Điều 311 BLTTDS năm 2004 có quy định: “Toà án áp dụng những quy đinh của Chương này, đồng thời áp dụng những quy đinh khác của Bộ luật này không trái với những quy đinh của Chương này để giải quyết những việc dân sự quy đinh tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7 và 8 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28, khoản 1 và 4 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Bộ luật này”. Tuy nhiên, do quy định về đương sự trong việc dân sự chưa được luật hoá, vì vậy, từ thực tiễn xét xử, giải quyết đã tồn tại những quan điểm khác nhau về đương sự trong việc dân sự, gây lúng túng cho quá trình giải quyết vụ việc.
Khắc phục những hạn chế, tồn tại trong các quy định pháp luật TTDS và trong thực tiễn giải quyết các VVDS, Bộ luật TTDS năm 2015 đã luật hóa toàn bộ quy định đương sự trong vụ án dân sự và đương sự trong VVDS tại Khoản 1 Điều 68. Cụ thể, Khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.” Như vậy, tuy không đưa ra khái niệm như thế nào là đương sự nhưng tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật TTDS đã chỉ rõ những chủ thể được xác định là đương sự. Và những chủ thể này lại tiếp tục được định nghĩa rõ hơn tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 của Điều 68 Bộ luật TTDS.
Từ những sự phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm đương sự trong tố tụng dân sự như sau: Đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến VVDS. Đặc điểm của đương sự trong tố tụng dân sự Đương sự trong TTDS là người tham gia TTDS. Do vậy, đương sự có đầy đủ các đặc điểm của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, mục đích đương sự tham gia tố tụng là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, những người tham gia tố tụng khác tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc để hỗ trợ cho hoạt động tố tụng.
Vì vậy, so với những người tham gia tố tụng khác, đương sự còn có những đặc điểm khác biệt sau đây: 8 luan an - Đương sự là chủ thể của QHPL nội dung có quyền, lợi ích tranh chấp bị xâm phạm hoặc cần được xác định trong VVDS. Trước khi trở thành đương sự trong TTDS, các chủ thể đã tham gia vào một QHPL nội dung như quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh thương mại, quan hệ lao động, họ đều có quyền, lợi ích gắn liền với các quan hệ đó. Lợi ích của các chủ thể có thể là lợi ích vật chất phát sinh từ tài sản hoặc là các lợi ích tinh thần phát sinh từ các giá trị nhân thân như danh dự, uy tín, nhân phẩm. Khi có tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ nội dung, các chủ thể tham gia vì để bảo vệ quyền, lợi ích của mình đã đưa ra các yêu cầu thông qua việc khởi kiện hoặc nộp đơn yêu cầu TA giải quyết.
Đương sự muốn khởi kiện hoặc yêu cầu thì trước hết họ phải chứng minh rằng họ có quyền, lợi ích cần được giải quyết trong vụ việc đó. Vì vậy, về nguyên tắc, cá nhân, tổ chức để trở thành đương sự của vụ, việc dân sự thì phải có quyền và lợi ích liên quan đến giải quyết vụ, việc dân sự. - Đương sự là chủ thể được TA chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyết vụ, việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đương sự có thể mong muốn tham gia hoặc buộc phải tham gia vào hoạt động tố tụng do việc “khởi động” vụ việc của nguyên đơn hoặc người yêu cầu và được TA thụ lý giải quyết.
Tuy nhiên, các đương sự khi tham gia vào quá trình tố tụng trước hết là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì để bảo vệ lợi ích của mình đương sự đưa ra yêu cầu, nêu ra các ý kiến đồng thời cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình là hợp pháp và có căn cứ với mong muốn để TA giải quyết bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết các VVDS. Các lợi ích mà đương sự hướng tới trong quá trình giải quyết có thể là lợi ích cá nhân, cũng có thể là lợi ích của pháp nhân hoặc lợi ích của những chủ thể đặc biệt không có tư cách pháp nhân như của hộ gia đình, tổ hợp tác hay doanh nghiệp tư nhân.