CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 1. Tự bào chữa là quyền con người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế Tự bào chữa là tự mình sử dụng lập luận, chứng cứ để bênh vực cho hành vi của bản thân đang bị xem là phạm pháp hoặc đang bị lên án, đang bị buộc tội.Theo từ điển tiếng Việt: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án” còn “tự bào chữa là tự mình thực hiện” [45]. Trong khoa học pháp lý TTHS, khái niệm quyền bào chữa được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Quyền tự bào chữa là một bộ phận không tách rời của quyền bào chữa và là một chuẩn mực bắt buộc trong quyền được xét xử công bằng và được xem là một trong những quyền cơ bản của con người.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, quyền bào chữa có lịch sử phát triển lâu đời với những cách hiểu và quy định khác nhau từ thời Trung cổ ở Châu Âu. Để quyền tự bào chữa được thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi trên thực tế thì quyền này phải được quy định trong các văn bản pháp lý mang tính bắt buộc thi hành. Trước hết, quyền tự bào chữa phải được xây dựng dựa trên cơ sở, chuẩn mực quốc tế, sau đó, được nội luật hóa bằng các quy định pháp luật trong từng quốc gia cụ thể, với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Khi nghiên cứu về quyền tự bào chữa, chúng ta bắt buộc phải nghiên cứu chế định này trong mối tương quan với quyền bào chữa.
Với quá trình hình thành và phát triển lâu đời, hiện nay, quyền tự bào chữa đã được công nhận như là một 7 chuẩn mực mang tính toàn cầu, được tất cả các quốc gia trên thế giới công nhận. Để có cái nhìn tổng quát về quyền tự bào chữa, chúng ta có thể tham khảo những quy định đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) đã xác định những quyền cơ bản của một người khi phải đối mặt với những cáo buộc hình sự. Tại Điều 10 của UDHR ghi nhận “Mọi người đều bìnhđẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”[38].
Điều 11 của Tuyên ngôn xác định“Bất cứ ai bị cáo buộc về một hành vi phạm tội đều được quyềnsuy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội trước một phiên tòa công khai, nơi mà anh ta được cung cấp những bảo đảm cần thiết cho việcbào chữa”[37]. Với cách quy định này, Tuyên ngôn không quy định trực tiếp thế nào là quyền tự bào hay quyền tự bào chữa cho một người chữa nhưng Tuyên ngôn đã ghi nhận một trong những tiêu chí cơ bản của xét xử công bằng là quyền được có những bảo đảm hợp lý cho việc bào chữa của người bị buộc tội. Theo tinh thần chung của UDHR thì các quy định về bảo đảm quyền bào chữa nói chung trong đó có quyền tự bào chữa đã được ghi nhận và cụ thể hóa ở nhiều văn kiện quốc tế khác.