Chương 1. Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về quyền của cỗ đông nam giữ ít cổ phan trong công ty cổ phan. Thực trạng pháp luật về quyền của cổ đông nắm giữ ít cô phan trong công ty cô phần ở Việt Nam hiện nay. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của cô đông năm giữ ít cô phân trong công ty cô phân ở Việt Nam hiện nay.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC HOÀN THIEN PHÁP LUẬT VE QUYEN CUA CO ĐÔNG NAM GIỮ iT CO PHAN TRONG CONG TY CO PHAN 1. Khai quát về quyền của cỗ đông nắm giữ it cỗ phần trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm quyền của cỗ đông nam giữ ít cỗ phần trong công ty cổ phần Cô đông là người nắm giữ cô phần trong công ty. Khái niệm cổ đông được ra đời và gắn liền với khái niệm công ty cổ phần và cần phải khang định rằng cô đông chi tồn tại trong công ty cổ phan.
Công ty cổ phan là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thê sở hữu nó trong đó vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Công ty cổ phan là công ty đặc trưng nhất, tiêu biéu nhất của loại hình công ty đối vốn, người sở hữu cô phan gọi là cô đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu. Vi thế, khái niệm cô đông đã xuất hiện từ rất sớm và được đề cập trong nhiều sách báo, tài liệu nghiên cứu nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây như Anh, Tây Ban Nha. Trong tiếng Anh khái niệm “shareholder” có nghĩa là người sở hữu các cổ phan trong công ty cô phan.
Về mặt lý thuyết thì cổ đông chính là những người chủ, người sở hữu (đồng sở hữu) công ty cô phần. Cé đông có thé sở hữu nhiều cổ phần và được thể hiện ra bên ngoài là các cổ phiếu. Dé trở thành cô đông của công ty thì cá nhân hoặc pháp nhân phải sở hữu ít nhất một cô phần đã phát hành của công ty cổ phần. Mac dù đã sở hữu cô phần của công ty nhưng cô đông phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với công ty theo quy định của pháp luật và theo điều lệ hoạt động của công ty đó.
Công ty cổ phần là công ty đối vốn nên về nguyên tắc, sở hữu cổ phan với tỷ lệ càng cao thì cô đông càng có nhiều quyên và có tiếng nói quan trọng trong công ty. Ngoài ra, thời gian sở hữu cô phần của cổ đông cũng là cơ sở dé cổ đông đó được thực hiện một số quyền nhất định. Cổ đông có các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo số cổ phan và loại cổ phần mà ho sở hữu. Theo quy định pháp luật, trong công ty cô phan, nhóm quyền mà các cô đông thường có gồm: quyền về tài sản (ví dụ: Nhận cổ tức, bán cô phan.); quyền về quan trị hay quản lý công ty (vi dụ: tham dự Đại hội đồng Cô đông và thực hiện quyền biểu quyết); quyền về thông tin (ví dụ: Kiểm tra các thông tin liên quan đến Cổ đông trong danh sách cô đông đủ tư cách tham gia Đại hội đồng Cé đông và yêu cau sửa đổi các thông tin không chính xác); quyền về phục hồi quyền lợi (vi dụ: yêu cầu hủy bỏ quyết định của DHDCD; khởi kiện người quản lý công ty khi họ vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho công ty và cô đông).
Như vậy có thé hiểu, quyền của cổ đông là những hành vi mà cổ đông có thé thực hiện theo quy định của pháp luật và điều lệ, nội quy, quy chế hoạt động của công ty dé bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. LDN Việt Nam cũng như pháp luật về doanh nghiệp của nhiều nước khác trên thé giới đều quy định cổ đông có những quyền khác nhau không phụ thuộc vào số lượng cổ phan, loại cô phần mà họ nắm giữ (quyền thông thường). Tuy nhiên, không có một điều luật cụ thé nào quy định cổ đông nam giữ ít cỗ phần có những quyền gi. Vì vậy, không chỉ ở Việt Nam mà trong nhiều nước khác trên thế giới tỒn tại các quan niệm khác nhau về quyền của cô đông nắm giữ ít cổ phần.
Một số nhà luật học cho rằng không phải quyền nào trong số các quyền của cổ đông cũng được coi là quyền của cô đông nam giữ ít cô phan. Sở di họ có quan điểm này là vì họ cho rằng những quyên thông thường mà cô đông nào cũng có sẽ không phải là quyền của cô đông nam giữ ít cỗ phần. Cổ đông nam giữ ít cổ phần khi thực hiện những quyền này sẽ không đem lại kết quả mà họ mong muốn. Tuy nhiên, quan niệm này chưa thực sự chính xác vì cô đông nam giữ ít cô phần trước tiên phải là cổ đông của công ty, vì thế họ có đầy đủ các quyền của cô đông.
Cổ đông nam giữ ít cổ phần phải có đầy đủ các quyền của cổ đông nói chung trong đó có những quyền đặc biệt mà khi thực hiện quyền này sẽ giúp họ đạt được các kết qua mà họ mong muốn. Bên cạnh quan điểm trên, một số nhà nghiên cứu cho rang quyền của cỗ đông năm giữ ít cô phần phải là những quyền đặc biệt mà khi thực hiện các quyền này sẽ đem lại những kết qua trái ngược lại với những kết qua mà cổ đông nắm giữ nhiều cổ phần mong muốn đạt được. Quan điểm này có thé đúng, nhưng rõ ràng là chưa đủ. Như đã phân tích, cổ đông nắm giữ ít cô phần là cổ đông của công ty nên họ có đầy đủ các quyền mà bất kỳ một cổ đông nào cũng có.
Tuy nhiên, trong số các quyền đó thì có những quyền mà khi thực hiện có thé giúp cho cổ đông nam giữ ít cô phần bao 10 vệ được mình, chống lại các hành vi chèn ép, hành vi đối xử không công bằng hoặc xâm hại của các cô đông khác hoặc của những người quan lý, điều hành công ty. Qua phân tích trên cho thấy quyền của cổ đông nắm giữ ít cỗ phần trước tiên phải là các quyền của cô đông nói chung do pháp luật và điều lệ công ty quy định trong đó có những quyền mà khi cô đông nắm giữ ít cô phần thực hiện có thé dem lại kết quả khác với kết quả mà cô đông nam giữ nhiều cổ phần hoặc những người quan lý điều hành công ty mong muốn đạt được. Điều này có nghĩa là cổ đông nắm giữ ít cô phần có thể can thiệp vào hoạt động của công ty thông qua việc thực hiện quyền của mình và do đó có thể điều chỉnh một cách đúng đắn các chính sách, các hoạt động của công ty, tức là của các cô đông nam giữ nhiều cổ phan, chăng hạn, quyền yêu cau cung cấp thông tin, quyền khiếu kiện, quyền yêu cầu kiểm tra, điều tra hoạt động của công ty hay của những người quản lý điều hành công ty. Nội dung quyền của cỗ đông nắm giữ ít cỗ phần trong công ty cỗ phan Nội dung quyền của cỗ đông nắm giữ ít cổ phần có thể xác định dựa vào các quy định của pháp luật, đặc biệt là pháp luật về doanh nghiệp, điều lệ doanh nghiệp, nghị quyết, quyết định của DHDCD, nội quy, quy chế hoạt động của công ty.
Ngoài ra còn phải dựa vào loại cổ phần mà cô đông sở hữu. Theo các quy định trên thi mọi cô đông nói chung và cô đông nắm giữ ít cổ phan nói riêng đều có những quyền sau: - Tham dự và phát biểu trong các DHDCD và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền; - Được nhận cổ tức và tài sản còn lại của công ty trong trường hợp công ty bị giải thể hoặc phá sản (dẫn đến thanh lý phần tài sản sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ) tương ứng với tỷ lệ cô phan trong công ty; - Quyền được ưu tiên mua cô phan mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần trong công ty; - Quyền được chuyền nhượng cô phan cho người khác; - Quyén được thông tin, xem xét va trích lục hoặc sao chụp điều lệ công ty, tải liệu công ty theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty; - Các quyền khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty II Nhìn chung, quyền của cổ đông dù là cổ đông nắm giữ nhiều cô phan hay ít cô phần đều có mối liên hệ với nhau và xuất phát từ: (i) Việc sở hữu cỗ phan của doanh nghiệp. Theo đó, nếu tỷ lệ sở hữu cổ phần của cô đông càng cao thì quyền của cô đông càng nhiều và cô đông càng có cơ hội dé thực hiện va bảo vệ quyền lợi của mình được tốt hơn; (1) Quyền được bảo vệ vốn và tài sản của mình trong công ty: Cổ đông nam giữ ít cé phần có thé tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện các hoạt động cần thiết dé bảo vệ quyền lợi của mình trong công ty. Van đề này sẽ được phân tích và làm rõ ở phan sau.
Khái niệm pháp luật về quyền của cỗ đông nắm giữ ít cỗ phần trong công ty cỗ phan Dé bảo vệ cô đông thì phải sử dụng công cụ pháp luật mà trong đó quy định về quyền của cô đông giữ vai trò quan trọng nhất. So với các cô đông nắm giữ nhiều cô phan và những người quản lý, điều hành công ty thi các cô đông nam giữ ít cỗ phan luôn ở vị thế yếu hơn. Do cổ đông nắm giữ ít cỗ phan sở hữu tỷ lệ cô phần thấp nên họ không được tham gia các hoạt động quản lý hàng ngày và họ cũng không có khả năng trong việc tham gia định hướng, hoạch định chính sách, hoạt động của công ty. Họ chỉ có thé tham gia quản lý điều hành và định hướng hoạt động của công ty một cách gián tiếp thông qua những người quản lý điều hành công ty.
Chính vì vậy họ rất dễ bị đối xử không công bằng, bị chèn ép và quyền lợi của họ bị xâm hại. Đây là lý do tại sao việc bảo vệ cổ đông nắm giữ ít cổ phần cần phải được quy định cụ thể trong luật.