CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hoạt động cho vay doanh nghiệp 1. Một số khái niệm a) Tín dụng ngân hàng “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật tổ chức tín dụng, 2010). Ngoài ra còn có các khái niệm khác về tín dụng ngân hàng như: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định” (Nguyễn Minh Kiều, 2008).
b) Cho vay “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”(QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN). Cho vay là một hình thức cấp tín dụng mà nó biểu hiện bằng tiền. Còn cấp tín dụng biểu hiện bằng nhiều hình thái khác: tiền, tài sản, uy tín,… c) Khách hàng doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Khách hàng doanh nghiệp là những khách hàng có tất cả những đặc điểm trên thì có điều kiện để vay vốn ngân hàng.
Nguyên tắc cho vay Để hoạt động cho vay được đảm bảo an toàn, phù hợp giữa lợi ích của bên cho vay và bên vay, hoạt động cho vay của các ngân hàng thường dựa trên những nguyên 4 tắc nhất định và các nguyên tắc này ảnh hưởng đến việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay. Các nguyên tắc đó là: Nguyên tắc hoàn trả: Khoản tín dụng phải được thanh toán nguyên gốc sau khi sử dụng để ngân hàng đảm bảo ở mức vốn tối thiểu nhất để có thể duy trì hoạt động. Nguyên tắc thời hạn: Khoản tín dụng phải được hoàn trả đúng vào thời điểm đã được hai bên xác định cụ thể và được ghi nhận trong thỏa thuận vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng. Nguyên tắc trả lãi: Ngoài việc thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc khách còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi tính bằng tỷ lệ % trên số tiền vay, được gọi là giá mua trên quyền sử dụng vốn Nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích: Tất cả các khoản tín dụng được sử dụng đúng như trong hồ sơ vay vốn.
Phân loại hoạt động cho vay Vấn đề phân loại cho vay của ngân hàng cần phải được căn cứ vào nhiều tiêu chí cơ bản khác nhau, và mỗi cách phân loại đó đem đến những ý nghĩa và mục đích nhất định. Dưới đây là các cách phân loại cơ bản: a) Dựa vào mục đích cho vay: Theo cách phân loại này thì hoạt động cho vay bao gồm: Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là hình thức cho vay được cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh. Cho vay tiêu dùng các nhân: Là loại cho vay được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Cho vay bất động sản: Là hình thức cho vay được cấp cho các doanh nghiệp để tiến hành đầu tư vào lĩnh vực bất động sản.
Cho vay nông nghiệp: Là hình thức cho vay được cấp cho các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu: Là hình thức cho vay được cấp cho các doanh nghiệp để thực hiện hoạt động kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu. 5 b) Dựa vào thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên. c) Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng Cho vay có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bởi bên thứ ba. Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là hình thức cho vay dựa trên uy tín của bản thân khách hàng vay vốn chứ không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc được bảo lãnh bởi bên thứ ba. d) Dựa vào phương thức cho vay: Cho vay theo món vay: Là hình thức cho vay, theo đó khách hàng và NHTM thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và kí kết hợp đồng cho vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là hình thức cho vay mà NHTM và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức cho vay duy trì trong một thời gian nhất định. e) Dựa theo phương thức hoàn trả nợ vay: Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn: Là hình thức cho vay chỉ có một kỳ hạn trả. Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ. Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ: Là hình thức cho vay mà tùy vào tình hình tài chính của mình để người vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
Điều kiện vay vốn đối với khách hàng doanh nghiệp: Mặc dù khi cho vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắc vừa nêu trên nhưng thực tế không phải khách hàng nào cũng tuân thủ đúng các nguyên tắc này. Do vậy, để giúp cho việc đảm bảo các nguyên tắc vay vốn, ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi khách hàng thỏa mãn một số điều kiện vay nhất định. Theo quy chế cho vay của ngân hàng Nhà nước ban hành, các điều kiện vay vốn khách hàng cần có bao gồm: 6 Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, giấy phép đăng ký kinh doanh ngành nghề cụ thể và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Có mục đích vay vốn hợp pháp.
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả. Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Các điều kiện vay vốn này chỉ hướng dẫn chung cần thiết cho các NHTM.
Khi cụ thể hóa các điều kiện cho vay này, các NHTM có thể cụ thể hóa và đặt ra các điều kiện riêng của mình. Quy trình cho vay doanh nghiệp Hầu hết các NHTM đều tự thiết kế cho mình một quy trình cho vay cụ thể, bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau với kết quả cụ thể của từng giai đoạn. Việc thiết kế quy trình cho vay tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Khả năng tổ chức quản lý, đặc điểm khách hàng,… Nói tóm lại, quy trình cho vay doanh nghiệp gồm các bước sau: Bước 1: Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ đề nghị cho vay vốn Lập hồ sơ cho vay là khâu căn bản đầu tiên của quy trình cho vay, nó được thực hiện ngay sau khi CBTD tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Lập hồ sơ vay vốn là khâu quan trọng, vì nó là khâu thu thập thông tin là cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định cho vay Tùy vào quan hệ giữa ngân hàng, khách hàng, quy mô và mục đích vay, CBTD hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn với những thông tin yêu cầu khác nhau.
Nhìn chung một bộ hồ sơ về cấp vốn tiền vay gồm những thông tin: năng lực pháp lý và năng lực hành vi doanh nghiệp, tình hình tài chính, khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của doanh nghiệp, tài sản bảo đảm. Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ: Giấy đề nghị vay vốn, giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất, các giấy tờ liên quan đến tài sản đảm bảo và một số loại giấy tờ khác. 7 Bước 2: Thẩm định hồ sơ vay vốn Thẩm định hồ sơ vay vốn là phân tích khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng về sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi. Mục tiêu của bước này là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng những khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến những biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra.
Mặt khác thẩm định hồ sơ vay vốn còn kiểm tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp để từ đó nhận định về thái độ trả nợ của khách hàng làm cơ sở quyết định cho vay. Bước 3: Quyết định và ký hợp đồng tín dụng Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng. Một điều cần chú ý ở khâu này là thường dễ phạm phải sai lầm nhất. Có hai loại sai lầm thường xảy ra trong khâu này: Quyết định cho vay đối với một khách hàng không tốt và từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt.
Cả hai sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. Loại sai lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính. Loại thiệt hại thứ hai thường ảnh hưởng tới uy tín và mất cơ hội cho vay của NH. Nhằm hạn chế hai sai lầm trong khâu quyết định tín dụng các ngân hàng thường chú trọng hai vấn đề: thu thập và xử lý thông tin đầy đủ và chính xác là cơ sở để ra quyết định, trao quyền quyết định cho một hội đồng tín dụng hoặc những người có năng lực phân tích và phán quyết.
Sau khi ra quyết định tín dụng, kết quả có thể là chấp thuận hoặc từ chối cho vay, tùy vào kết quả phân tích và thẩm định ở khâu trước.