Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Cơ sở khoa học an toàn vệ sinh lao động 1. An toàn vệ sinh lao động ATVSLĐ có thể hiểu là trạng thái không có mối nguy, nhưng trên thực tế không thể thực hiện được trong một hệ thống. Vì vậy, ATVSLĐ trên thực tế là quản lý rủi ro ở dưới mức có thể chấp nhận được.
Có thể nói đến an toàn xã hội với ý nghĩa rộng hoặc an toàn lao động với ý nghĩa hẹp. Gần đây, với những chính sách thiết thực thì an toàn được đặt làm trọng tâm cơ bản và việc ngăn chặn rủi ro được quan tâm nhiều hơn là việc phòng ngừa nói chung. Hiện nay, khái niệm an toàn tại nơi làm việc được mở rộng với ý nghĩa bao gồm quản lý thiệt hại nghĩa là làm cho doanh nghiệp ít thiệt hại nhất. ATVSLĐ là một trong những yếu tố trong chế độ bảo hộ lao động, liên quan đến an toàn, sức khỏe và phúc lợi cho người lao động (NLĐ).
Là việc phòng chống các yếu tố nguy hại, nguy hiểm nhằm đảm bảo không xảy ra TNLĐ và BNN. Điều kiện lao động, các yếu tố nguy hiểm và có hại Hoạt động đồng bộ trên các các mặt về luật pháp, tổ chức hành chính, khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội được biểu hiện thông qua các đối tượng, công cụ, quy trình công nghệ và môi truờng lao động được gọi là điều kiện lao động [14]. Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động [14]. Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động [14].
Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 1. Định nghĩa TNLĐ & BNN vừa chỉ những sự cố vừa được sử dụng như một thuật ngữ với ý nghĩa giảm thiểu những nỗ lực của con người để đạt được mục tiêu, 6 nó bao gồm cả tổn thất về người và tài sản do tai nạn hay sự cố gây ra [12]. Nghĩa là TNLĐ, BNN có thể hiểu dưới cả hai ý nghĩa là tai nạn và hậu quả của tai nạn. Theo tổ chức lao động quốc tế định nghĩa TNLĐ, BNN là hiện tượng xảy ra do điều kiện làm việc hoặc do hành vi không an toàn của NLĐ, ở đây nói đến cả việc tử vong, chấn thương, bệnh tật, BNN do tai nạn trong công việc.
Nếu xem xét định nghĩa về TNLĐ, BNN của các nước phát triển ta thấy như sau. Nhật Bản định nghĩa TNLĐ, BNN là tai nạn phát sinh trong khi NLĐ đang làm việc nguyên nhân là do công việc khiến cho NLĐ phải nghỉ trên một ngày để điều trị hay gây ra tử vong, hoặc gây tổn thương một phần cơ thể người, hay một phần chức năng bộ phận cơ thể. Theo luật bồi thường cho lao động của Anh, TNLĐ, BNN định nghĩa là tai nạn phát sinh trong khi làm việc và nguyên nhân do công việc gây ra. Theo luật bồi thường xã hội của Pháp định nghĩa TNLĐ, BNN là tai nạn phát sinh do nguyên nhân lao động.
Tai nạn là sự cố xảy ra ngoài ý muốn, ngoài kế hoạch định trước và được phân loại thành tai nạn gây tử vong, tai nạn nặng phải nhập viện, tai nạn nhẹ có thể điều trị ngoại trú và tai nạn chỉ gây thiệt hại về tài sản. Theo luật bảo vệ an toàn nghề nghiệp của Mỹ quy định trong quy tắc sức khỏe và an toàn nghề nghiệp TNLĐ, BNN bao gồm các loại TNLĐ, BNN phát sinh trong môi trường lao động. Môi trường lao động được định nghĩa là cơ sở lao động của chủ lao động nơi mà NLĐ làm việc dưới điều kiện tuyển dụng và được quy định bao gồm vật chất hay dụng cụ mà NLĐ sử dụng chứ không đơn thuần chỉ là khái niệm một địa điểm. Yếu tố phát sinh tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp Về cơ bản thì TNLĐ, BNN phát sinh do các nguyên nhân đa dạng không chỉ xuất hiện mà còn ràng buộc mật thiết với nhau.
Yếu tố phát sinh TNLĐ, BNN gồm yếu tố trực tiếp và yếu tố gián tiếp. Yếu tố trực tiếp được chia ra gồm: yếu tố con người và yếu tố vật chất. Yếu tố vật chất là yếu tố mà con người tiếp xúc trực tiếp và gây ra tai nạn bao gồm điều kiện về môi trường như âm thanh, ánh sáng, trang thiết bị, máy móc, cửa bảo vệ. Yếu tố 7 con người là yếu tố của trạng thái tinh thần và thể lực của cá nhân NLĐ như tinh thần làm việc hoặc năng lực làm việc.
Yếu tố gián tiếp gây ra TNLĐ, BNN được chia thành các yếu tố sau. Thứ nhất, là yếu tố kỹ thuật do các vấn đề kỹ thuật gây ra như trang thiết bị, máy móc, thiết kế công trình, kiểm tra, bảo vệ. Thứ hai, là yếu tố về đạo đức do thiếu sót các kiến thức, kinh nghiệm liên quan về an toàn. Thứ ba là yếu tố về cơ thể như các bệnh đau đầu, chóng mặt, bệnh về thần kinh.
Thứ tư, là các yếu tố tinh thần như hồi hộp, căng thẳng, sợ hãi, thái độ làm việc thiếu chuyên nghiệp như không thi hành, chống đối, bất mãn. Cuối cùng là yếu tố quản lý như người kinh doanh thiếu trách nhiệm trong an toàn lao động hay do tiêu chuẩn công việc không rõ ràng. Nguyên lý phát sinh TNLĐ, BNN khi có thiếu sót trong quản lý ATVSLĐ, thêm vào đó là hành vi không an toàn của NLĐ cùng trạng thái không an toàn của vật gây tai nạn theo Hình 1.1: Nguyên lý phát sinh tai nạn bệnh nghề nghiệp Nguồn: [12, tr. Ảnh hưởng của tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp đối với doanh nghiệp Từ sau cách mạng công nghiệp đa số các doanh nghiệp đều thúc đẩy các hoạt động kinh doanh ưu tiên sản xuất và lợi nhuận nhằm hướng tới mục tiêu đạt được lợi nhuận tối đa và thường cho qua những tổn thất do TNLĐ phát sinh.
Tuy nhiên, bước vào xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển nhanh chóng, hiện đại hóa của công nghiệp. Nhờ có môi trường và phương pháp làm 8 việc thích hợp thì việc bảo vệ tính mạng và sức khỏe của NLĐ đã trở thành yếu tố tăng cường tính cạnh tranh cơ bản nhất của doanh nghiệp, từ đó ý nghĩa của công tác đề phòng TNLĐ cũng được nhấn mạnh trong mặt quản lý và duy trì mạng lưới doanh nghiệp. Kinh doanh ATVSLĐ của doanh nghiệp kết hợp giữa kinh doanh và ATVSLĐ là trách nhiệm của người quản lý cao nhất và mọi công việc đều do người quản lý cao nhất quyết định. Điều này có thể hiểu là hoạt động xây dựng hệ thống quản lý bảo vệ an toàn để đề phòng TNLĐ; đánh giá định kỳ mức độ nguy hiểm và độc hại từ đó quản lý một cách hệ thống các vấn đề cần xử lý nhằm đề phòng TNLĐ giúp loại bỏ và cải thiện các yếu tố nguy hiểm, độc hại.
Tính cần thiết của việc phòng chống tai nạn lao động Mục tiêu của công tác ATVSLĐ phòng chống tai nạn là giúp cho NLĐ được hưởng thụ cuộc sống sinh hoạt thoải mái và khỏe mạnh bằng việc đặt trọng tâm vào ý thức tôn trọng con người, xóa bỏ các mối nguy hiểm phát sinh từ lao động từ đó đề phòng các sự cố và tai nạn, cũng như dựa vào những cải cách không ngừng của khoa học kỹ thuật để loại trừ các nhân tố nguy hiểm, độc hại tiềm tàng. Trước hết TNLĐ phát sinh tại cơ sở lao động có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến cá nhân, doanh nghiệp, xã hội và rộng hơn là cả quốc gia, chính vì vậy có thể dẫn đến những kết quả sau: Thứ nhất, TNLĐ là hành vi không tôn trọng con người, không chỉ gây tổn hại đến giá trị đạo đức mà còn đẩy mạnh tư tưởng coi nhẹ an toàn lao động trong toàn xã hội từ đó hạ thấp tiêu chuẩn về ý thức an toàn lao động của người dân. Thứ hai, số lượng NLĐ bị tai nạn tăng lên sẽ dẫn đến có thêm nhiều người nghèo khó bất hạnh trong xã hội, từ đó làm quá tải mức chi phí phúc lợi và khiến gánh nặng đè lên người dân tăng lên khi phải bổ sung thêm chi phí. Thứ ba, TNLĐ mang đến bất hạnh cho không chỉ NLĐ mà cả gia đình họ và chính bởi sự bất ổn trong việc kiếm sống sẽ làm giảm chất lượng cuộc sống của người dân.
9 Thứ tư, TNLĐ là nguyên nhân gây ra những mâu thuẫn giữa NSDLĐ và NLĐ trong doanh nghiệp, và trong trường hợp nó trở thành tiếng nói yêu cầu của tập thể phát ra bên ngoài thì sẽ không chỉ làm xấu đi mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ mà còn khiến xã hội càng thêm mất ổn định. Thứ năm, trong trường hợp phát sinh các tai nạn như hỏa hoạn, cháy nổ, rò rỉ chất độc hại có thể đe dọa đến an toàn của người dân, mang đến sự bất an và dẫn đến hậu quả phá hủy hệ sinh thái. Thứ sáu, đối với NLĐ phải chịu những thương tật do TNLĐ, khi xem xét thực tế về sự chối bỏ tuyển dụng của doanh nghiệp, thiếu cơ sở đào tạo cần thiết cho NLĐ tái xin việc, hay mạng lưới kết nối lỏng lẻo trong tuyển dụng - xin việc có thể thấy TNLĐ có thể trở thành nhân tố làm tăng thêm số người thất nghiệp. Vì vậy, để loại bỏ đi những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế và xã hội do TNLĐ gây ra, cần lấy việc tôn trọng tính mạng con người làm nền tảng từ đó xây dựng vững chắc văn hóa an toàn lao động trên quy mô toàn xã hội.
Chủ doanh nghiệp và NLĐ cần nâng cao nhận thức về ATVSLĐ và cùng nỗ lực xây dựng quy trình ATVSLĐ một cách hệ thống, cũng như tích cực thúc đẩy công tác phòng chống TNLĐ. Cùng với đó doanh nghiệp phải làm tròn trách nhiệm xã hội thông qua kinh doanh ATVSLĐ, chính phủ cũng phải đưa ra những chính sách ATVSLĐ nhất quán coi việc bảo vệ tài sản tính mạng của NLĐ là trách nhiệm và nghĩa vụ ưu tiên hàng đầu. Chính phủ, doanh nghiệp, NLĐ cùng các ban ngành liên quan phải nỗ lực cố gắng hết sức mình hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ trong phòng chống TNLĐ. Quản lý an toàn vệ sinh lao động Nhiều NSDLĐ tin rằng không thể kiểm soát được an toàn.
Họ nói rằng “Bạn hãy làm những gì bạn có thể bằng cách cung cấp các thiết bị an toàn và xây dựng các quy định và quy trình sau đó hãy chấp nhận những gì xảy ra”. Nhưng thực tế chúng ta nhận thấy rằng có thể quản lý được an toàn.