Chương 1: Giới thiệu • Chương 2: Cơ sở lý luận • Chương 3: Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH T&M Forwarding • Chương 4: Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động giao nhận hàng xuất FCL và hàng xuất LCL bằng đường biển của Công ty TNHH T&M Forwarding. Khái niệm về giao nhận Ngày nay có khá nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ giao nhận vận tải. Nhưng hầu hết các nhà giao nhận vận tải trên thế giới đều sử dụng một khái niệm dịch vụ giao nhận vận tải trong bộ quy tắc FIATA (International Association Of Freight Forwarders Association) – Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tế đã đưa ra khái niệm cụ thể đó là: “Dịch vụ giao nhận vận tải là tất cả dịch vụ liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu trữ hàng, xử lý hàng, đóng gói hàng, phân phối hàng cùng các dịch vụ phụ trợ khác như tư vấn, thủ tục hải quan, tài chính, bảo hiểm, thu thập chứng từ và thanh toán liên quan đến hàng hóa. Trước kia dịch vụ giao nhận đã được nhắc đến trong Luật Thương mại 1997.
Nhưng do sự phát triển cũng như sự toàn cầu hóa trong thương mại quốc tế dần dần thuật ngữ “Dịch vụ giao nhận” dần không được phổ biến mà thay vào đó là “Dịch vụ Logistics” được định nghĩa cụ thể trong điều 233 Luật Thương mại 2005: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là lô-gi-stíc[5]. Khái niệm logistics được sử dụng như hiện nay để chỉ các doanh nghiệp có khả năng kết hợp lại với nhau thành một đầu mối đứng ra cung cấp một chuỗi các dịch vụ liên hoàn được nêu trên. Khái niệm về người giao nhận Hiện nay chưa có một khái niệm rõ ràng nào về người giao nhận.
Người ta hiểu người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay các doanh nghiệp giao nhận là người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder, Forwarding Agent). Ngoài ra, người giao nhận cũng có thể là chủ hàng ( khi chủ hàng tự mình đứng ra làm công việc giao nhận hàng 3 hóa của mình), là chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt chủ hàng làm công việc giao nhận), công ty xếp dỡ hay khi hàng hoặc bất kỳ người nào có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa theo Luật Thương mại 2005. Theo Liên đoàn Quốc tế các hiệp hội giao nhận thì “Người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và là hoạt động lợi ích của người ủy thác mà bản thân anh ta không phải là người vận tải. Người giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hóa”.
Theo điều 164 Luật Thương mại 2005 của Việt Nam thì người giao nhận được định nghĩa: Người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa [5]. Từ những định nghĩa trên, ta có thể thấy được: • Người giao nhận lo liệu việc vận tải nhưng chưa chắc là người vận tải. Người này có thể sử dụng phương tiện vận tải hoặc có thể thuê mướn phương tiện vận tải. • Người giao nhận có thể nhận hoạt động theo hợp đồng được ủy thác ký với chủ hàng.
• Ngoài ra, người giao nhận còn làm nhiều việc khác trong phạm vi ủy thác của chủ hàng, theo những điều khoản đã ký kết trong hợp đồng. Vai trò, nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người giao nhận 2. Vai trò của người giao nhận Vai trò của người giao nhận ngày càng lớn mạnh, đặc biệt trong thời đại hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam như ngày ngay. Điều này được thể hiện qua một vài mặt sau: • Thứ nhất, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Khi mà giờ đây các hoạt động kinh doanh diễn ra vô cùng sôi nổi hàng hóa, nguyên vật liệu,…được vận chuyển một cách liên tục.
Nhờ vào chuyên môn hóa mà các nhà 4 sản xuất chỉ cần tiếp xúc với nhà giao nhận vẫn có thể đảm bảo được đầu vào cho sản xuất, lưu kho hàng hóa, giao nhận hàng hóa với đối tác,…Từ đó, tác động lớn đến doanh nghiệp từ việc tiết kiệm được thời gian, công sức mà còn giúp doanh nghiệp có thể tập trung nguồn lực cho việc sản xuất. Ngoài ra, để có cấu thành nên giá bán sản phẩm thì giá trị gia tăng do logistics cũng chiếm một phần lớn từ chi phí lưu thông, vận chuyển, việc phát triển của ngành giao nhận cũng góp phần giảm giá bán, thúc đẩy tốc độ lưu thông hàng hóa, như vậy quá trình vận chuyển hàng hóa mang tính chuyên môn cao hơn. Người giao nhận có thể nghiên cứu để lập kế hoạch, lựa chọn tuyến vận chuyển, người vận chuyển, người chuyên chở công ty xếp dỡ phù hợp với chi phí nhất để vận chuyển hàng hóa đến tay người nhận một cách an toàn nhất nên khách hàng sử dụng dịch vụ có thể an tâm về sự an toàn hàng hóa, đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng, đảm bảo chất lượng, nhờ đó làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Không những vậy, dịch vụ giao nhận còn giúp các doanh nghiệp không phải lo về các loại giấy tờ, thủ tục mà thay vào đó các nhà cung cấp dịch vụ giao nhận có chuyên môn cao sẽ giúp giải quyết các vấn đề đó một cách suông sẻ, nhanh chóng.
• Thứ hai, góp phần mở rộng thị trường Ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh mẽ cho phép kết hợp các quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, tiêu thụ từ đó đòi hỏi hoạt động vận tải phát triển hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn và phức tạp hơn. Trước đây hoạt động vận tải hàng hóa thường là hàng lẻ dễ xảy ra sự cố, mất mát đối với hàng hóa, rắc rối về mặt giấy tờ, vì vậy sự ra đời của nhà giao nhận đã đảm nhiệm được tất cả công việc ở mọi công đoạn để có thể tiết kiệm chi phí, thời gian, đảm bảo sự an toàn cho hàng hóa. Nhờ có dịch vụ giao nhận phát triển cao, việc tổ chức vận chuyển diễn ra chuyên nghiệp đã nhanh chóng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mạng lưới phân phối của mình ra toàn cầu, không như trước đây mỗi doanh nghiệp sản xuất 5 chỉ có thể tập trung vào một vài thị trường nhất định, do vận chuyển càng xa thì chi phí càng cao. • Thứ ba, mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội Tạo điều kiện cho quá trình giao lưu kinh tế, xã hội, nối liền các hoạt động kinh tế giữa trong nước và nước ngoài, giữa các nước, các khu vực với nhau.
Ngoài ra, sự phát triển của ngành giao nhận cũng đã tạo điều kiện cho chính phủ có thêm nguồn thu nhập ngoại tệ. Cùng với sự phát triển của ngành giao nhận thì các loại hình bảo hiểm cũng ra đã ra đời phục vụ cho hoạt động của người giao nhận. Sự ra đời này đã góp phần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, phục vụ tốt cho hoạt động giao nhận vận tải. Ngoài ra, ngành giao nhận vận tải đã giải quyết vấn đề việc làm hiện nay.
Người giao nhận không chỉ liên quan đến các hoạt động như chứng từ, khai báo hải quan,…mà còn liên quan đến nhiều hoạt động khác như chở hàng, bốc xếp, dán nhãn,…Đặc biệt, trong thời đại công nghệ ngày càng phát triển đòi hỏi người giao nhận phải ứng dụng được các công nghệ mới, kỹ thuật tiên tiến. Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên, cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn cao. Nghĩa vụ, quyền hạn của người giao nhận Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây: • Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác. • Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
• Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn; 6 • Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý. Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải[5]. Trách nhiệm của người giao nhận 2. Trách nhiệm của nhà giao nhận vận tải (không phải là đại lý): Trách nhiệm cơ bản: Nhà giao nhận vận tải phải chịu trách nhiệm nếu họ không đạt thẩm định về dịch vụ giao nhận hàng hóa, bao gồm các việc thuộc điều 8, phải bồi thường cho khách hàng về phần hàng hóa bị thất lạc hay hư hỏng cũng như thất thoát về tài chính mà lỗi thuộc về nhà giao nhận vận tải.
Nhà giao nhận vận tải sẽ không chịu trách nhiệm về các hành động thiếu sót của bên thứ 3, ví dụ như, nhưng không giới hạn, hãng vận chuyển, nhân viên kho, công nhân bốc vác, chính quyền cảng hoặc các nhà giao nhận vận tải khác. Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu trách nhiệm nếu không thẩm định tốt quá trình lựa chọn, hướng dẫn và giám sát các bên thứ ba[1]. Trách nhiệm của nhà giao nhận vận tải (là đại lý) Trách nhiệm của nhà giao nhận vận tải đóng vai trò là hãng vận chuyển Nhà giao nhận vận tải sẽ chịu trách nhiệm không chỉ khi tự vận tải hàng hóa bằng phương tiện của họ, mà cả khi, phát hành chứng từ hoặc khi họ là người thầu vận chuyển (contracting carrier). Tuy nhiên, nhà giao nhận vận tải sẽ không chịu trách nhiệm giống như hãng vận chuyển nếu như khách hàng nhận chứng từ vận tải được phát hành bởi chủ thể khác mà không phải là nhà giao nhận vận tải và sẽ duy trì như vậy trong khoảng thời gian hợp lý.