CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp a. Khái niệm cho vay doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo Luật tổ chức tín dụng năm 2010, “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho KH một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay DN là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay (là NHTM) giao hoặc cam kết giao cho DN một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp Mục đích sử dụng vốn: DN vay vốn để kinh doanh như bổ sung vốn lưu động, nhu cầu thanh toán, đầu tư vào máy móc, thiết bị, đầu tư vào các dự án. Đối tượng cho vay: tất cả các loại hình DN hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Quy mô cho vay: thường lớn hơn quy mô cho vay cá nhân và hộ gia đình. Tuy nhiên các DN ở Việt Nam hơn 90% là các DN nhỏ và vừa nên quy 8 mô cho vay không cao. Tuy nhiên, với số lượng giao dịch lớn thì đối tượng DN sẽ là nguồn đem lại lợi nhuận cao cho NH. Thời hạn cho vay: có thể vay ngắn hạn, trung hoặc dài hạn.
Đảm bảo cho vay: thông thường các NH chỉ cho vay khi DN có TSBĐ. Chỉ một số DN lớn có uy tín và là KH truyền thống của NH thì mới được vay mà không có TSBĐ. Chi phí đầu tư cho một món vay DN thường cao. Phân loại cho vay doanh nghiệp * Phân loại theo thời hạn: + Cho vay ngắn hạn Có thời hạn dưới 1 năm và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các DN.
+ Cho vay trung hạn Có thời hạn từ 1-5 năm và chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. + Cho vay dài hạn Có thời hạn trên 5 năm và được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. * Cho vay theo ngành nghề: Cho vay ngành thương mại và dịch vụ Cho vay ngành xây dựng và giao thông vận tải Cho vay ngành công nghiệp, Cho vay ngành nông nghiệp và các ngành khác. * Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay - Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay không có tài 9 sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba mà chủ dựa vào uy tín của KH vay vốn để quyết định cho vay.
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm tiền vay như cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh của bên thứ ba. Vai trò của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp + Cho vay góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DN. Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các DN phải không ngừng cạnh tranh. Xu hướng hiện nay của các DN này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh.
Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như vậy có thể đáp ứng kịp thời, các DN có thể tìm đến nguồn cho vay từ các NHTM. Chỉ có tín dụng NH mới có thể giúp DN thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DN, đảm bảo cho các hoạt động của DN được liên tục. Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các DN luôn cần phải cải tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng vững và phát triển trong cạnh tranh. Trên thực tế không một DN nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Vốn vay của NH đã tạo điều kiện cho các DN đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh.
Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục. 10 + Cho vay góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN. Khi sử dụng vốn vay NH, các DN phải tôn trọng hợp đồng cho vay, phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù DN làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các DN muốn có vốn vay của NH phải có phương án sản xuất khả thi.
Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các DN còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất NH thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay NH thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc DN phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả. + Cho vay DN là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ các DN phát triển, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với hoạt động cho vay của mình, NH đã tạo cơ hội cho các DN mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các NH có xu hướng tập trung cho vay các DN kinh doanh hiệu quả, có tỷ suất sinh lợi cao hơn là đầu tư vào các DN có tỷ suất sinh lời thấp, không đáp ứng nhu cầu cho vay của NH. Hoạt động cho vay đã làm thay đổi quan hệ cung – cầu hàng hóa và thay đổi cơ cấu ngành kinh tế. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản (hoặc nguồn vốn) của chủ đối tượng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động kinh doanh NH, tín dụng là hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho NH nhưng cũng đồng thời là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro cao.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của 11 tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng từ các khoản cho vay DN sẽ không được trả đầy đủ. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD trong cho vay DN được phân loại như sau: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của TSBĐ. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH, được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
12 Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều DN hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp a. Đối với ngân hàng - RRTD trong cho vay DN làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NH, gia tăng chi phí của NH so với dự kiến.
Khi gặp RRTD, NH không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng NH phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động đến hạn, điều này làm cho NH mất cân đối thu chi, khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho NH kinh doanh không hiệu quả, chi phí của NH tăng lên so với dự kiến. Mặt khác,theo quy định của Ngân hàng nhà nước, tất cả các khoản nợ xấu NH đều phải trích dự phòng, tỷ lệ trích dự phòng tùy theo mức độ nợ xấu và TSBĐ.