CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa nên kinh tế khiến hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro tín như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro kinh doanh 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng trong NHTM a. Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch.
Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự sống còn của DN, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận nó, không được né tránh nó. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong cạnh tranh các DN không còn con đường nào khác là phải đương đầu với rủi ro có thể xảy ra bằng cách tiên liệu, phán đoán các rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp ngăn ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra. Rủi ro NHTM là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động kinh doanh NH, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn.
Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, RRTD chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có Luan van 8 sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại). Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của ngân hàng, P.Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã nói: “ Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. RRTD là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD. Trong tài liệu Financial Institutions Management – A Modern Perspective, A Saunders và H. Lange định nghĩa RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn. Hay theo Timothy W.Kock: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa khách hàng không thanh toán vốn gốc và lại theo thỏa thuận.
RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank Management, Univesrity of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107). Cũng có định nghĩa khác cho rằng RRTD xảy ra khi xuất hiện các biến cố không thể lường trước khiến khách hàng không thực hiện được cam kết đã thỏa thuận với khách hàng.Từ các định nghĩa trên có thể tóm lược định nghĩa về RRTD như sau: Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán Luan van 9 (bao gồm cả phần gốc và lãi) như cam kết có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí là không được hoàn trả và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng cho sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của hoạt động ngân hàng. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại v Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng.
RRTD xảy ra khi khách hàng vay gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Nói cách khác, những rủi ro trong HĐKD của khách hàng vay đã gián tiếp gây ra RRTD cho ngân hàng. v Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân tức là RRTD xảy ra ở rất nhiều dạng và phụ thuộc vào nguyên nhân đã gây ra RRTD, hình thức và hậu quả của RRTD của khoản vay. v Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng.
Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức độ phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Phân loại RRTD trong NHTM Theo tính chất rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây: Luan van 10 Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro Giao dịch Danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Lựa chọn Bảo đảm Nghiệp vụ Nội tại Tập trung v Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng. + Rủi ro bảo đảm: Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo… + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật các các khoản vay có vấn đề.
v Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành hai loại: + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế. + Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Luan van 11 Ngoài ra còn có nhiều hình thức phân loại khách nhau như phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay… d. Nhân tố gây ra rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại v Thông tin không cân xứng, chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường tài chính là các nguyên nhân cơ bản gây nên các rủi ro cho ngân hàng nói chung và RRTD nói riêng.
Thông tin không cân xứng (thông tin không đầy đủ, không chính xác) dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch: Rủi ro này do thông tin không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra trước khi thực hiện giao dịch tài chính. Nếu có đủ thông tin cần thiết về các đối tượng cần vay tiền, ngân hàng sẽ rất dễ dàng quyết định cho vay hay không cho vay. Nhưng trên thị trường luôn tồn tại thông tin không cân xứng về người đi vay. Thông tin trên thị trường thường bị nhiễu loạn với người đi vay, người đi vay không có khả năng trả được nợ là người tích cực vay nhất, họ cố tạo ra bình phong đầy đủ nhất để vay được tiền vay của ngân hàng và kết quả là người đầu tiên được lựa chọn.
Sự lựa chọn này được gọi là sự lựa chọn đối nghịch, những người rất kém tín nhiệm (những nguời có thể rất dễ dàng không hoàn trả được món vay) lại là những người có nhiều khả năng được lựa chọn nhất của ngân hàng. Nếu ngân hàng cho họ vay, ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ rủi ro không thu lại được nợ vay. Ngược lại, cũng do lựa chọn đối nghịch, ngân hàng sẽ bỏ mất cơ hội kiếm lợi nhuận. Như vậy, muốn mở rộng tín dụng và hạn chế được rủi ro, ngân hàng cần phải vượt qua được thông tin không cân xứng để có sự lựa chọn đúng đắn.
Vì vậy, vấn đề thông tin được xem là vấn đề quan trọng nhất để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay ngân hàng. Thông tin không cân xứng dẫn đến rủi ro đạo đức: Rủi ro này cũng do thông tin không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra sau khi thực hiện Luan van 12 giao dịch tài chính. Trên thị trường có rất nhiều người vay tiền có ý muốn thực hiện những hoạt động không đạo đức (xét trên quan điểm người cho vay), một khi những người này vay được tiền, họ có thể đầu tư vào những dự án có rủi ro cao hoặc sử dụng vốn không đúng với cam kết ban đầu hoặc có ý định chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Những người đi vay này có thể ngay từ ban đầu đã có hành vi thiếu đạo đức, nhưng cũng có thể xuất hiện trong quá trình sử dụng vốn vay, tức là do trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh cũng như năng lực kinh doanh yếu kém dẫn đến thất bại trong kinh doanh mà nảy sinh hành vi thiếu đạo đức.
Ngân hàng lúc đó sẽ đặt vào tình cảnh nguy cơ gặp phải rủi ro. Nếu ngân hàng không thận trọng trong việc thẩm định cho vay và kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng thì nguy cơ rủi ro cho vay rất lớn. Song cùng với nó, nếu ngân hàng quá thận trọng trong việc cho vay, không cho vay hoặc đột ngột cắt đứt hợp đồng tín dụng thì lại bị thiệt hại về lợi nhuận vì nguồn vốn huy động phải trả lãi và lớn hơn là mất uy tín với khách hàng.