Chương 1. Giới thiệu đề tài. Tổng quan quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel II. Quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel II tại OCB Chương 4.
Giải pháp nâng cao tiếp cận quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel II tại OCB Bảo mật 7 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO CHUẨN MỰC BASEL II 2. Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại NHTM Trong bất kỳ giai đoạn nào của phát triển kinh tế, hoạt động tín dụng luôn hiện hữu là hoạt động cốt lõi nhất, ở đó, chủ thể ngân hàng là nơi cấp tín dụng, các khách hàng từ cá nhân đến doanh nghiệp luôn là đối tượng chính được các ngân hàng cấp tín dụng do nhu cầu vốn ngày một tăng cao. Bên cạnh lợi nhuận mang lại, tín dụng mang trong mình rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, mà khi xảy ra sẽ làm suy sụp nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu.
Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập cao như hiện nay, một trong những vấn đề đặt ra cho sự tăng trưởng và hoạt động bền vững của nền kinh tế chính là khả năng quản trị rủi ro mà đặc biệt là hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Ngân hàng trong nền kinh tế vừa giữ vai trò là cơ quan tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ, vừa là công cụ trực tiếp thực hiện, kiểm soát và điều hòa các chính sách tiền tệ, tín dụng cũng như thanh toán của Nhà nước, do đó các ngân hàng thương mại có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau, chỉ cần một ngân hàng thương mại gặp vấn đề thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng dây chuyền toàn bộ hệ thống. Đã có rất nhiều các tác giả nghiên cứu, đánh giá về tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM, như sau: Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học trong và ngoài nước dưới dạng luận văn, luận văn, tạp chí, hội thảo nêu lên các vấn đề trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM, cụ thể: (Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh, 2017); (Bùi Diệu Anh, 2012); (Trần Chí Chinh, 2012), (Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toàn, 2014).Các nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với định tính để phân tích dữ liệu, thu thập ý kiến khảo sát nhằm chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng như nhân tố tỷ lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá ngoại tế, cung tiền M2 hay các nhân tố rủi ro trong quá khứ có độ trễ 1 năm. (Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hữu Thạch, 2015) chỉ ra các yếu tố tác động đến quản trị rủi ro tín dụng thông qua tỷ lệ nợ xấu của 26 NHTM trong giai Bảo mật 8 đoạn 2003 – 2015 và đánh giá ngân hàng có quy mô lớn sẽ dễ gặp nguy cơ rủi ro tín dụng cao hơn.
Trong nghiên cứu của (Dương Ngọc Hào, 2015) đã dựa vào việc phân tích dữ liệu thu thập từ ba nhóm ngân hàng để đánh giá rủi ro tín dụng theo các tiêu chính như hoạch định, từ đó chỉ ra những thách thức, khó khăn trong quản trị rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó với các công trình nước ngoài, (Pyle, 1997) đã giải thích cơ sở lý thuyết và sự cần thiết của quản trị rủi ro cũng như nhấn mạnh đến tác động rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. (Berger và Young, 1997) đã chỉ ra rằng nợ xấu có ảnh hưởng lớn đến chi phí, hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc giám sát, quản trị rủi ro tín dụng tốt sẽ giúp dư nợ xấu giảm dần. (Aduda và Gitonga, 2011) nhận thấy tỷ lệ nợ xấu (NPL) có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ (ROE) hay (Bekhet và Eletter, 2014) nhận định việc đo lường, lượng hóa, quản trị rủi ro tín dụng là quan trọng đối với bất kỳ ngân hàng nào.
(Basis, 1998) đã nêu các khái niệm cơ bản về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng. Từ những lý luận trên cho thấy: hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM có tốt thì mới giúp nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả. Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM 2. Tổng quan về rủi ro tín dụng 2.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Theo Brown và Moles (2016) thì rủi ro tín dụng là việc cá nhân và/hoặc ai đó sau mượn một khoản tiền và cam kết hoàn trả đúng hạn. Kết quả mong muốn của người cho vay là khoản vay được hoàn trả (có lãi). Nhưng trong một số trường hợp kết quả không như mong muốn là khoản vay không được hoàn trả.
Thì đó được gọi là rủi ro tín dụng. NHNN Việt Nam, 2013. Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại Bảo mật 9 tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội, ngày 21/01/2013 có nêu “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Theo một khái niệm khác về rủi ro tín dụng, đó là khả năng mà khách hàng vay và/hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình đã cam kết.
Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người được giao kết trong hợp đồng mà trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ vi phạm nghiêm trọng nào đối với mọi nghĩa vụ được nêu trong hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi (Ủy ban Basel, 2004). Cấu thành rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất của ngân hàng. Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ, rủi ro tín dụng được cấu thành bởi các thành phần như sau: - Rủi ro vỡ nợ Rủi ro vỡ nợ là khi bên vay không thể đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết với bên cho vay. Hậu quả của vỡ nợ là gây ra thua lỗ một phần hoặc toàn phần đối với khoản tiền được cho vay.
Nguyên nhân do chậm trễ trong nghĩa vụ trả nợ, tái cấu trúc nghĩa vụ trả nợ do sụt giảm uy tín của bên vay hay do phá sản. - Rủi ro giảm uy tín Rủi ro giảm uy tín là rủi ro tín dụng xảy ra khi bên vay là người phát hành trái phiếu, hay cổ phiếu bị giảm uy tín. Điều này bên vay chưa chắc đã vỡ nợ nhưng nguy cơ cao vỡ nợ. Sự sụt giảm uy tín sẽ gây ra thay đổi giá trị thị trường và có thể gây ra lỗ.
Điều này là nguyên nhân gây ra rủi ro không trả được nợ và tăng rủi ro vỡ nợ - Rủi ro nguy cơ Nguy cơ là độ lớn của lượng tiền có thể gặp rủi ro. Đối với khoản vay đó là số tiền cho vay cộng với lãi suất. Rủi ro nguy cơ bắt nguồn từ những nguyên cơ có thể xảy ra trong tương lai. Rủi ro này xảy ra khi bên vay có sự thương lượng với ngân hàng về số tiền hạn mức/vay, thời gian vay trong một khoảng thời gian nhất định.
Bảo mật 10 - Rủi ro đối tác Rủi ro đối tác là loại hình rủi ro tín dụng liên quan tới công cụ phái sinh. Rủi ro phái sinh xảy ra khi lãi suất thị trường biến động, rủi ro thua lỗ từ người này sang người kia tùy thuộc vào biến động thị trường. Rủi ro đối tác là rủi ro hai chiều cộng với bất trắc nguy cơ do biến động thị trường. - Rủi ro hồi phục Rủi ro hồi phục là sự bất trắc xuất phát từ thời điểm vỡ nợ.
Do đó rủi ro phục hồi là sự ngẫu nhiên trong thu nhập từ sự vỡ nợ của bên vay. Về mặt kinh tế, sự phục hồi không được biết trước nó phụ thuộc vào những đảm bảo và điều kiện kinh tế của người đi vay, món nào ưu tiên được trả nợ trước. - Rủi ro tương quan và tập trung Rủi ro tương quan là rủi ro xảy ra khi ngân hàng cho nhiều khách hàng vay vốn với lượng vốn nhỏ nhưng nếu đồng loạt khách hàng cùng vỡ nợ thì cũng gây ra thua lỗ lớn cho ngân hàng. Rủi ro tập trung là rủi ro xảy ra khi ngân hàng tập trung tín dụng cho một vài khách hàng lớn có uy tín tốt nhưng nếu khách hàng không trả được nợ thì gây ra thua lỗ lớn cho ngân hàng mặc dù xác suất là thấp.
- Rủi ro chênh lệch: Rủi ro chênh lệch là loại rủi ro tín dụng, áp dụng với các công cụ vốn thị trường, thường là trái phiếu. Chênh lệch tín dụng là chênh lệch giữa lợi nhuận rủi ro cao của một trái phiếu so với lợi nhuận không rủi ro. Chênh lệch tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, liên quan tới việc bất trắc trong trả nợ trái phiếu. Chênh lệch tín dụng đền bù cho rủi ro tín dụng mà nhà đầu tư gặp phải.
- Rủi ro quốc gia Đây là rủi ro về cuộc khủng hoảng quốc gia, rủi ro quốc gia phát hành trái phiếu vỡ nợ. Những khoản nợ này trở thành tái cấu trúc khoản nợ, gây ra những bất trắc về thời gian trả nợ. Trong nhiều trường hợp rủi ro quốc gia còn có nghĩa là rủi ro chuyển khoản- việc không chuyển tiền từ quốc gia đó nữa và điều này sẽ gây rủi ro cho tất cả các doanh nghiệp của quốc gia đó bất kể xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp đó ra sao. Phân loại và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.
Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách để phân loại rủi ro tín dụng (RRTD) khác nhau, để phân loại chính xác cần căn cứ vào các vấn đề sau: - Căn cứ vào mức độ tổn thất: rủi ro mất vốn và rủi ro đọng vốn. - Căn cứ đối tượng sử dụng: Rủi ro khách hàng cá thể; Rủi ro các tổ chức/doanh nghiệp; Rủi ro quốc gia/khu vực địa lý.