phần mở đầu, kết luận, luận văn có kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Cần Thơ Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Cần Thơ. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại 1.2 Khái niệmhàng Ngân rủi ro tín dụng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động 1.1ngân Kháihàng niệmvà các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chứcTheo tín dụng (điều ủy ban 4, luật Basel các tổ về giám sátchức ngântín dụng“Rủi hàng: số 47/2010/QH12). ro tín dụng là khảĐiểm năng12 màđiều 4 khách của luật hàng này cũng vay hoặc quytác bên đối định: Hoạt không thựcđộng hiệnngân đƣợchàng các là việcvụkinh nghĩa củadoanh, cungnhững mình theo ứng thƣờng điều xuyên đã thỏa một hoặc thuận”.
Thựcmột số rủi chất cácronghiệp vụ sau thất thoát đốiđây: với a)một Nhận ngântiền gửi;theo hàng b) Cấp tín Ủy ban dụng;đó Basel c) là: Cung “ Sựứng vỡ dịch vụ ngƣời nợ của thanh toán giao qua ƣớctài khoản. trong hợp đồng”. Theo Khoản 1 Điều 2 Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng. chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện được hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Quan điểm của A.Langge thì: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngan hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian” Tuy có rất nhiều các khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng nhƣng có thể tổng hợp lại nhƣ sau:“ Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo 5 ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng. Nghĩa là các khoản cấp tín dụng phát sinh nợ xấu và khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Hoặc nói một cách cụ thể hơn, thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt giá trị và thời hạn".2 Phân loại rủi ro tín dụng Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng đƣợc phân Có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo mục đích yêu cầu chia thành các loại nhƣ: rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục nghiên cứu, nhƣng cơ bản bao gồm các loại sau: (Portfolio risk). - Rủi ro giao dịch: Là Một hình thức của RRTD, nguyên nhân phát sinh trong quá trình ngân hàng cấp TD cho khách hàng.
Nó bao gồm các rủi ro sau: + Rủi ro lựa chọn: Xuất phát từ những sai sót trong các khâu về thẩm định, đánh giá, phân tích tín dụng, phƣơng án vay vốn để xét duyệt hồ sơ cấp TD cho khách hàng. + Rủi ro đảm bảo: Là loại rủi ro liên quan đến những điều khoản đảm bảo và cam kết trong hợp đồng TD có chỗ chƣa rõ ràng hoặc sơ hở làm cho NH không thu hồi đƣợc khoản TD đã cấp đúng nhƣ mong đợi. + Rủi ro nghiệp vụ: Phát sinh từ việc thiếu quản lý, giám sát các khoản TD đã cấp, bao gồm cả hệ thông xếp hạng rủi ro và khâu xử lý kỹ thuật, để cho ngƣời đi vay sử dụng khoản TD đã cấp không đúng nhƣ cam kết dẫn đến làm ăn thua lỗ và mất khả năng hoàn trả. - Rủi ro danh mục: Là rủi ro xuất phát từ hạn chế trong việc quản lý nhiều khoản TD với nhau trong danh mục TD của NH.
Nó bao gồm hai loại rủi ro là: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: là rủi ro liên quan đến những đặc điểm riêng có của từng loại TD nhƣ là: Cho vay tín chấp hay thế chấp, thời hạn vay dài hay ngắn, lĩnh vực hoạt động của khoản TD đƣợc cấp. + Rủi ro tập trung xuất hiện khi ngân hàng thiếu sự đa dạng trong hoạt động cấp TD nhƣ chỉ tập trung cấp TD có các khách hàng hoạt động trong cùng một 6 lĩnh vực, cấp TD với lãi suất cao,…tất cả những điều này một khi có sự biến động không tốt xảy ra thì danh mục TD của NH sẽ bị tác động toàn bộ do mang tính tập trung nên hiệu ứng sẽ xảy ra cùng lúc. Nếu căn cứ vào thời gian phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng có thể đƣợc chia thành 3 nhóm: + Rủi ro trƣớc khi cho vay: là rủi ro xảy ra do ngân hàng có những phân tích, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng chƣa hợp lý, dẫn đến cho vay các ngân hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tƣơng lai.
+ Rủi ro trong khi cho vay: là loại rủi ro xảy ra trong quá trình chuyển vốn cho khách hàng. + Rủi ro sau khi cho vay: là loại rủi ro do ngân hàng thƣơng mại không nắm bắt đƣợc tình hình sử dụng vốn và khả năng tài chính của khách hàng trong quá trình sử dụng vốn vay. Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân rủi ro thì rủi ro tín dụng đƣợc phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. - Rủi ro khách quan: Nguyên nhân gây ra rủi ro khách quan do thiên tai dịch bệnh, hỏa hoạn, chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến làm thất thoát vốn vay, trong khi ngƣời vay đã thực hiện nghiêm túc về chế độ chính sách.
- Rủi ro chủ quan: Nguyên nhân gây ra là do chủ quan của ngƣời vay và ngƣời cho vay, do vô tình hay cố ý và những nguyên nhân chủ quan khác làm thất thoát vốn vay.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Thông thƣờng, ngƣời ta phân rủi ro tín dụng thành ba nhóm: nguyên nhân thuộc về ngân hàng, nguyên nhân thuộc về ngƣời vay, nguyên nhân khác. Trong quan hệ TD có hai đối tƣợng tham gia là NH cho vay và ngƣời đi vay.
Nhƣng ngƣời đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trƣờng kinh doanh và đây là đối tƣợng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. RRTD xuất phát từ môi trƣờng kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khác hay rủi ro khách quan. Rủi ro xuất phát từ ngƣời vay và NH cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan.1 Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân từ phía ngƣời vay Đối với các doanh nghiệp kinh nghiệm và năng lực kinh doanh đang còn ờ trình độ thấp, thì hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắm bắt đƣợc thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh. Khi đƣợc vay vốn kinh doanh thì dự án này sẽ gặp nhiều khó khăn, khả năng xảy ra rủi ro là rất cao.
Nhƣ vậy rủi ro tín dụng đối với ngân hàng sẽ rất lớn. Nhân tố không lành mạnh từ phía khách hàng là việc khách hàng lừa đảo, sử dụng vốn sai mục đích, trốn tránh trách nhiệm uỷ quyền và bảo lãnh. Khi mà khách hàng lừa đảo họ lợi dụng các điểm yếu và kẽ hở của ngân hàng. Họ lập các phƣơng án kinh doanh giả, cùng các giấy tở thế chấp giả mạo hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng một bộ hồ sơ.
Đối với trƣờng hợp bảo lãnh và uỷ quyền xảy ra chủ yếu đối với các công ty lớn. Một số công ty, công ty lớn đứng ra bảo lãnh uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của ngân hàng để tránh sự kiểm tra giám sát của ngân hàng vào hoạt động và kinh doanh. Tuy nhiên khi đơn vị chi nhánh không trả đƣợc nợ thì đơn vị bảo lãnh không chịu đứng ra thực hiện nghĩa vụ của mình. Tóm lại ta có thể liệt kê một số nguyên nhân cơ bản từ phía khách hàng: - Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý, năng lực điều hành, quản trị - Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả không có thiện chí trả nợ vay - Khả năng quản lý kinh doanh, quản lý vốn kém dẫn đến thiếu thanh khoản - Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu, thiếu minh bạch - Do kinh doanh thua lỗ, không tiêu thụ đƣợc hàng hóa - Khách hàng cố ý lừa đảo, tham ô Nguyên nhân từ phía Ngân hàng Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ.
Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay, lãi suất vay và kỳ hạn không phù hợp; dẫn đến chất lƣợng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài ra, nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng nhƣ giải ngân trƣớc khi hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của ngƣời vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy 8 ra. Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết.
Thứ hai: Sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu sát sao. Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trƣớc khi giải ngân. Vậy nên nếu cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán bộ đã thực sự chính xác chƣa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao.