lời mở đầu và kết luận, KLTN bao gồm các các nội dung nhƣ sau: Chƣơng I: Tổng quan nghiên cứu Chƣơng II: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM CP Tiên Phong Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu Chƣơng IV: Một số giải pháp, kiến nghị tăng cƣờng quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM CP Tiên Phong 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tính cấp thiết của đề tài Giai đoạn 2016-2018 là giai đoạn đánh dấu sự tăng trƣởng trở lại với tốc độ khá nhanh của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng với tốc độ tăng trƣởng trung bình từ 3,3% năm 2016 đến 3,8% năm 2018. Một trong những hoạt động chịu ảnh hƣởng rất lớn của nền kinh tế là hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại vì đây là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Giai đoạn khủng hoảng kinh tế đã gây ra chịu thiệt hại vô cùng lớn cho hệ thống ngân hàng thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng khi mà nợ xấu bùng phát, rủi ro mất khả năng thanh khoản và thanh toán, nhiều ngân hàng gục ngã và đi đến phá sản.
Một trong những ngân hàng không may chịu thiệt hại rất lớn khi vừa mới xuất hiện trên thị trƣờng trong giai đoạn cuộc khủng hoảng này là ngân hàng TMCP Tiên Phong (gọi tắt là "TPBank"). Thành lập đúng vào giai đọa khủng hoảng tài chính, ngân hàng TPBank đã phải chịu mức thiệt hại nghiêm trọng, lúc này ngân hàng phải gồng mình để từng bƣớc khắc phục khoản lỗ quá lớn trƣớc năm 2012. Vết thƣơng quá lớn đối với một ngân hàng còn quá nhỏ và non nớt đã buộc TPBank phải tự tái cơ cấu vào năm 2012. TPBank ra đời trong giai đoạn đặc biệt nhƣ vậy, nhƣng sau 4 năm cải cách cơ cấu, với những nỗ lực của mình TPBank đã vƣơn lên mạnh mẽ, trở thành trƣờng hợp điển hình tự tái cơ cấu thành công.
Một trong những hoạt động tăng trƣởng rất tốt và đóng góp nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng là hoạt động tín dụng. Để hoạt động tín dụng tăng trƣởng tốt thì hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát tín dụng và đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên vì là một ngân hàng có quy mô nhỏ và còn khá trẻ đồng thời giai đoạn 2016-2018 là thời gian tín dụng của ngân hàng tăng trƣởng rất nhanh và có diễn biến phức tạp thì hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng phải hết sức đƣợc chú trọng. Việc nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng sẽ giúp ngân hàng hạn chế tối đa rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trƣờng tài chính.
4 Trƣớc tính cấp thiết đó, đề tài "Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Tiên Phong" đƣợc tiến hành nghiên cứu để làm rõ những tình hình hoạt động tín dụng và quản trị tín dụng tại ngân hàng. Khóa luận sử dụng nhiều phƣơng pháp phân tích để chỉ ra những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng và nguyên nhân gây nên những rủi ro đó. Từ kết quả phân tích sẽ đánh giá hoạt động tín dụng và quản trị tín dụng tại ngân hàng, đồng thời có những giải pháp, khuyến nghị để khắc phục những hạn chế và nâng cao hoạt động quản trị rủi ro tín dụng cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vấn đề nghiên cứu trong KLTN Qua tình hình thực tế thực tập, nghiên cứu tại ngân hàng, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về tình hình quản trị rủi ro của một ngân hàng và vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn, tôi đã chọn nghiên cứu và hoàn thành đề tài: "Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Tiên Phong".
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của KLTN bao gồm các nội dung sau: - Làm rõ nền tảng lý thuyết về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM. - Phân tích thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Tiên Phong. - Đề xuất một số biện pháp giải quyết hạn chế nhằm nâng cao hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Tiên Phong. Đối tƣợng nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu trong phạm vi hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. 5 - Phạm vi thời gian: Đề tài phân tích hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong trong 3 năm: 2016, 2017, 2018. - Phạm vi nội dung: Từ thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Phƣơng pháp nghiên cứu Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành tài chính ngân hàng, chuyên ngành kinh tế, các đề tài nghiên cứu này của tác giả sử dụng kết hợp hai phƣơng pháp sau: - Phƣơng pháp định lƣợng: Thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu từ các báo cáo thƣờng niên, báo cáo tài chính,.
của ngân hàng TMCP Tiên Phong, các bản công bố thông tin, cơ quan thống kê,. - Phƣơng pháp định tính: Áp dụng bảng khảo sát cán bộ nhân viên ngân hàng để thu thập thông tin thực tế, nghiên cứu các hồ sơ khách hàng tại ngân hàng TMCP Tiên Phong. + Địa bàn tiến hành thu thập thông tin: Thành phố Hà Nội + Thời gian khảo sát: từ ngày 15/4/2019 đến ngày 30/4/2019 + Phƣơng thức khảo sát: Tiến hành phát phiếu để thu thập thông tin thực tế; nghiên cứu hồ sơ khách hàng. Trên cơ sở lý luận, các số liệu từ các báo cáo, kết quả từ phiếu khảo sát điều tra tác giả sử dụng phần mềm Excel kết hợp phƣơng pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị tín dụng tại ngân hàng, đồng thời tìm ra nguyên nhân dẫn đến những rủi ro trong hoạt động quản trị tín dụng đƣa ra những giải pháp phù hợp với thực trạng của ngân hàng.
Nền tảng lý thuyết về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Để tìm hiểu về rủi ro tín dụng thì trƣớc hết cần hiểu tín dụng là gì. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra các khái niệm khác nhau về tín dụng nhƣ: 6 Hồ Diệu (2011, 20) đã nêu rõ: "Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán." Có nhiều loại tín dụng, nhƣ là tín dụng nhà nƣớc, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng ngân hàng. Nguyễn Văn Tiến (2010, tr.
350) đã đƣa ra khái niệm: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”. Theo Wikipedia: "Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tƣợng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thƣờng kèm theo lãi suất". Nhƣ vậy, tín dụng có thể đƣợc diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhƣng bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là ngƣời đi vay và một bên là ngƣời cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi. Trong hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro và Rose P.S (2004) đƣa ra khái niệm rằng: "Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng".Koch (2006) thì cho rằng "Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn".Fitch: "Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ". 7 World Bank đƣa ra khái niệm: "Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là không đƣợc chi trả toàn bộ, điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của Ngân hàng". Các khái niệm trên đều có điểm chung là đề cập đến vấn đề rủi ro tín dụng xảy ra tại thời điểm khách hàng không trả đƣợc nợ cho ngân hàng hay nói cách khác là khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đối với khoản vay mà đã thỏa thuận hợp đồng với ngân hàng. Tuy nhiên, khái niệm về rủi ro tín dụng đã có sự thay đổi khi Hiệp ƣớc Basel II đƣợc ban hành và có hiệu lực vào tháng 1 năm 2007.
Tại Việt Nam để triển khai đề án Basel II, NHNN đã ban hành thông tƣ số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với TCTD (theo phƣơng pháp tiêu chuẩn của Basel II) và thông tƣ số 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM nhằm tạo khung pháp lý để các ngân hàng thực hiện trụ cột 1, trụ cột 2 và trụ cột 3 của Basel II. Theo 41/2016/TT-NHNN nêu ra: "Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài". Nhƣ vậy khi áp dụng những tiêu chuẩn của Basel II vào hoạt động ngân hàng thì rủi ro tín dụng lúc này không chỉ xảy ra tại thời điểm khách hàng không trả đƣợc nợ mà còn xảy ra ngay cả khi khách hàng vẫn đang trong thời hạn vay.