phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng Từ sự ra đời trên của tín dụng, ngƣời ta có khái niệm đơn giản về tín dụng là: Tín dụng là những quan hệ vay mƣợn có sự hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, sự thoả thuận giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay về số tiền vay, lãi suất, thời hạn và phƣơng thức trả nợ (trả một lần hay trả dần). Nhƣng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đơn giản này thì tín dụng mới chỉ phản ánh ở một khía cạnh nào đó, còn mang tính chất chung chung, chƣa bao trùm đƣợc cái tổng thể của tín dụng.
Do vậy ngƣời ta đƣa ra một khái niệm tƣơng đối đầy đủ về tín dụng nhƣ sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị (dƣới hình thức tiền tệ hay hiện vật) từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu. Nhƣ vậy, một quan hệ tín dụng phải thoả mãn những đặc trƣng sau: - Là quan hệ chuyển nhƣợng giá trị mang tính chất tạm thời: Sự chuyển quyền sử dụng vốn cho ngƣời sử dụng trong một thời gian nhất định, còn quyền sử dụng vốn thuộc quyền ngƣời sở hữu. Tức là trong thời gian vay, ngƣời cho vay không có quyền đòi và ngƣợc lại, khi hết hạn cho vay nếu ngƣời đi vay không trả thì sẽ vi phạm pháp luật. - Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị: Đây là đặc trƣng cơ bản nhất của quan hệ tín dụng, có nghĩa là nếu hết thời hạn vay ngƣời đi vay phải thanh toán cả gốc và lãi.
Qua đó ta khẳng định rằng tín dụng mang tính chất có hoàn trả nhƣng mang tính không ngang giá (thu về khoản tiền lớn hơn khoản tiền ban đầu). Đây là dấu hiệu cơ bản để nhận biết quan hệ tín dụng. - Quan hệ tín dụng đƣợc xây dựng trên cơ sở sự tin tƣởng giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng, bởi vì có tin tƣởng thì họ mới cho vay, ở đây tin có nghĩa là họ sẽ thu hồi nợ là một 6 lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu.
Tín dụng theo nghĩa rộng bao gồm hai mặt là huy động vốn và tiến hành cho vay. Trong hoạt động thực tiễn, quan hệ tín dụng đƣợc hình thành hết sức đa dạng nhƣng ở bất cứ dạng nào tín dụng cũng luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuất hàng hoá, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của những quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Mục đích và tính chất của tín dụng do mục đích và tính chất của nền sản xuất hàng hoá quyết định. Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của phƣơng thức sản xuất trong xã hội đó.
Vai trò của hoạt động tín dụng Đối với ngân hàng: Hoạt động tín dụng góp phần tạo điều kiện cho ngân hàng thƣơng mại mở rộng đƣợc các hoạt động kinh doanh khác nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng. Đây là hoạt động sinh lời lớn nhất của ngân hàng với tỷ lệ 70% tổng tài sản. Nhƣ vậy nếu hoạt động tín dụng có vấn đề thì ngân hàng cũng khó khăn trong việc kinh doanh. Tín dụng đƣợc xem nhƣ là xƣơng sống của ngân hàng, nó quyết định sự tồn tại phát triển của mọi ngân hàng thƣơng mại.
Một ngân hàng thƣơng mại chỉ có thể tồn tại và phát triển khi xác định đƣợc phạm vi, giới hạn và mức độ tín dụng phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng. Đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trƣờng với nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn và có lãi. Mặt khác tín dụng ngân hàng có ảnh hƣởng rất lớn đến vị thế của ngân hàng. Nó là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định vị thế của ngân hàng.
Đối với nền kinh tế: Thứ nhất, tín dụng đã đáp ứng đƣợc hầu hết các nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất đƣợc liên tục, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất. Đồng thời việc tập trung và phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc dân từ nơi thừa đến nơi thiếu. Bên cạnh việc đáp ứng vốn kịp thời đầy đủ cho các Doanh nghiệp, các Ngân hàng còn có những ý 7 kiến đóng góp cho phƣơng án sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tác thông qua quá trình sử dụng vốn của Doanh nghiệp. Thứ hai, tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nƣớc đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô nhƣ việc ổn định giá cả, tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc làm.
Việc bảo đảm đƣợc mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một phần vào khối lƣợng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng nhƣ đối tƣợng tín dụng. Mà ở đây khối lƣợng và cơ cấu tín dụng lại phụ thuộc vào điều kiện tín dụng nhƣ lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trƣơng mở rộng tín dụng đƣợc quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Nhƣ vậy, thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng Nhà nƣớc có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hƣớng vận động của nền kinh tế cả về quy mô lẫn kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dƣới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngƣợc lại với tổng cung và các điều kiện sản xuất khác.
Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dƣới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt đƣợc mục tiêu vĩ mô cần thiết. Thứ ba, Tín dụng Ngân hàng là công cụ chủ yếu để đầu tƣ cho các ngành kinh tế then chốt và các ngành kinh tế kém phát triển. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng là tập trung lƣợng vốn nhàn rỗi trong xã hội của các tổ chức, cá nhân để cho các đơn vị kinh tế vay. Nhƣng không phải tất cả các chủ thể có nhu cầu vay đều đƣợc Ngân hàng đáp ứng.
Bởi để tránh rủi ro tín dụng các Ngân hàng chỉ thực hiện đầu tƣ tập trung vào đơn vị cá triển vọng sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên trong điều kiện đất nƣớc ta hiện nay phần lớn dân cƣ đang sống bằng nghề nông. Ở hầu hết các tỉnh miền núi vấn đề đƣa máy móc vào nông nghiệp còn rất hạn chế nguyên nhân ở đây là do thiếu vốn. Vì vậy trong giai đoạn trƣớc mắt thông qua công tác tín dụng, Nhà Nƣớc cần tập trung vào phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểu của xã hội, đồng thời tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế khác.
Bên cạnh đó nƣớc ta đang trên con đƣờng công nghiệp hoá hiện đại hoá tham gia vào các quan hệ mang tính chất Quốc tế. Bởi vậy chúng ta cần phải tập trung 8 vào việc phát triển các ngành mũi nhọn nhƣ: công nghiệp chế biến, dầu khí…và tín dụng Ngân hàng là một trong những yếu tố cơ bản góp phần quan trọng vào việc phát triển các ngành này. Với một chính sách tín dụng và mức lãi suất hợp lý sử dụng trong việc khuyến khích phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn là một công cụ linh hoạt tích cực trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá một cách nhanh chóng và vững chắc. Thứ tư, tín dụng ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cƣờng chế độ kiểm toán, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh vì các ngân hàng chỉ cho vay vốn khi các doanh nghiệp làm ăn có lãi.
Thứ năm, tín dụng NH có vai trò quan trọng trọng việc thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lƣu quốc tế. Ngày nay mối quan hệ kinh tế giữa các nƣớc trên thế giới và khu vục đang phát triển đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức, cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Qua hoạt động tín dụng, ngân hàng sẽ là trợ thủ đắc lực cung cấp vốn cho các nhà đầu tƣ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá. Do vậy tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phƣơng tiện để nối liền nền kinh tế các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển trong việc mở rộng sản xuất hàng hoá.
Phân loại tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại tín dụng. Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Theo thời hạn tín dụng: Căn cứ theo tiêu thức này, ngƣời ta chia tín dụng thành 3 loại.
- Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn nhỏ hơn một năm và đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đây là loại hình tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì trong một thời gian ngắn ít có những biến động xảy ra và ngân 9 hàng thƣờng luôn dự tính đƣợc những biến động đó. Nó bao gồm tín dụng chiết khấu, tín dụng thấu chi, tín dụng ứng trƣớc và tín dụng bổ sung vốn lƣu động. - Tín dụng trung hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
Loại hình tín dụng này thƣờng đƣợc dung để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.