CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG. Rủi ro tín dụng.Khái niệm rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng theo khái niệm cơ bản là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Là rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”.
Theo Timothy W-Koch: “Khi một ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thoả thuận. Rủi ro tín dụng có sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn”. Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Như vậy, có thể nói rủi ro tín dụng là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sản trong trường hợp khách hàng vay vốn (được cấp tín dụng) không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ những cam kết đã ký với ngân hàng. SVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 3 Lớp: K47H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng 1.Phân loại rủi ro tín dụng.
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD được phân chia thành các loại sau: Rủi ro giao dịch(Transaction rish): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục(Porfolio rish): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại( Intrinsic rish): xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biêt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
Rủi ro tập trung( Concentration rish): là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng. Nguyên nhân khách quan: Thông tin không cân xứng (asymmetric information): Là tình huống phát sinh khi một bên không nhận biết đầy đủ về đối tác của mình,dẫn đến những quyết định không chính xác trong quá trình giao dịch.Ví dụ, SVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 4 Lớp: K47H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng những nhà quản lý công ty biết được rõ ràng là họ có trung thực hay không, hay họ có được những thông tin đầy đủ hơn so với các cổ đông về công việc kinh doanh của công ty. Sự tồn tại thông tin không cân xứng dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức: Lựa chọn đối nghịch (adverse selection): là tình huống thông tin không cân xứng xuất hiện trước khi giao dịch được thực hiện. Những người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao lại là những người tích cực trong việc tìm kiếm khoản vay.
Như vậy, có những người có nhiều khả năng đem lại kết quả không mong muốn lại là những người mong muốn trở thành một bên trong giao dịch. Họ là những người ít được mong đợi cho vay nhất, bởi vì khả năng không hoàn trả được nợ vay là rất lớn. Rủi ro đạo đức (moral hazard) phát sinh sau khi giao dịch được thực hiện. Người cho vay có thể gặp rủi ro nếu người đi vay sử dụng vốn vào các hoạt động không được mong đợi, bởi vì, các hoạt động này có thể khiến cho khoản vay không hoàn trả được.
Khi khách hàng đã nhận được khoản vay, họ có thể mạo hiểm đầu tư vào các dự án có rủi ro cao với kỳ vọng thu được lợi nhuận nhiều hơn nếu thành công. Rủi ro càng cao khiến cho khoản vay càng khó thu hồi. Bởi vậy, để kinh doanh có lãi và an toàn, ngân hàng phải vượt qua được vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, là nguyên nhân chủ yếu khiến cho khoản tín dụng không thu hồi được. Môi trường chính trị và pháp lý: Môi trường chính trị và pháp lý biến động dẫn đến những ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh nói chung của ngân hàng.
Sự mất ổn định về chính trị sẽ ngay lập tức làm cho kinh tế của đất nước đi xuống, mọi hoạt động SXKD bị ngưng trệ, ứ đọng vốn lớn, từ đó dẫn tới nguy cơ ngân hàng thu nợ kém và rủi ro vì thế mà không ngừng tăng lên. Một vấn đề cơ bản và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các ngân hàng có hiệu quả đó là hệ thống pháp luật đồng bộ, nhất quán. Nó là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường. Nếu các chính sách hay luật pháp thay đổi thường xuyên mà không nhất quán, mâu thuẫn, không SVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 5 Lớp: K47H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng phù hợp sẽ làm cho mọi hoạt động trong nền kinh tế không theo quỹ đạo của nó.
Mặt khác, các chủ thể khi tham gia quan hệ tín dụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật mới đem lại lợi ích cho cả hai phía và xã hội. Môi trường kinh tế: Một nền kinh tế trong giai đoạn đi lên hay suy thoái đều đem lại những tác động tích cực và tiêu cực tới mọi hoạt động kinh doanh của xã hội. Trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng, người đi vay (doanh nghiệp, cá nhân) có khả năng thu được lợi nhuận lớn nhờ hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Ngược lại, trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng thì khả năng hoàn trả của người đi vay giảm sút do hoạt động kinh doanh ngưng trệ, ứ đọng vốn, sức tiêu dùng giảm, ảnh hưởng không tốt tới doanh thu của doanh nghiệp.
Vấn đề lạm phát tức là sức mua của đồng tiền giảm trong khi giá thành đầu vào tăng làm cho các cá nhân và doanh nghiệp không có đủ khả năng về tài chính phải nhờ cậy vào sự tài trợ từ các khoản vay ngân hàng. Điều này dẫn tới xu hướng tất nhiên là nhu cầu tín dụng tăng lên. Các khoản nợ trở thành gánh nặng đối với người đi vay khi họ không trả được nợ. Môi trường tự nhiên, xã hội: Tự nhiên là yếu tố quan trọng nhưng lại khó có thể dự đoán trước được.
Nó dường như nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Những điều kiện về thời tiết, khí hậu có tác động trực tiếp đến mọi hoạt động SXKD, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Bởi lẽ, nếu điều kiện tự nhiên không ưu đãi, thì mọi phương án, dự án SXKD sẽ không được thực thi như mong muốn, gây ra rủi ro cho chính doanh nghiệp cũng như việc ngân hàng khó có thể thu hồi lại vốn, chấp nhận chịu rủi ro cùng với KH của mình. Ngoài ra, một số yếu tố mà ngân hàng cũng cần đặc biệt quan tâm đến, đó là: phong tục, tập quán, thói quen, trình độ văn hóa…để đưa ra được những sản phẩm, dịch vụ tốt và phù hợp, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
SVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 6 Lớp: K47H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính ngân hàng Môi trường công nghệ: Xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu làm cho xã hội ngày càng phát triển, vấn đề áp dụng các công nghệ tiên tiến vào các sản phẩm, dịch vụ là việc rất cần thiết. Do nhu cầu KH muốn sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tốt ngày càng tăng, thì công nghệ trở thành yếu tố cạnh tranh giữa các ngân hàng. Vì thế, việc chú trọng phát triển công nghệ cũng như đào tạo nhân lực được đặt lên hàng đầu để tạo đà cạnh tranh lành mạnh và giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng. Nguyên nhân chủ quan: Nguyên nhân từ phía khách hàng: Khách hàng là cá nhân: Phải xét tới tình trạng thu nhập của họ.
Nếu thu nhập không ổn định cũng có nghĩa họ đang đứng trước nguy cơ thất nghiệp, vì thế mà khả năng trả nợ của họ sẽ bị giảm sút. Đồng thời phải xét đến mức độ chênh lệch giữa thu và chi trong việc KH sử dụng vốn vay không đúng mục đích, số chi lớn hơn số thu cũng sẽ dẫn tới việc KH đó không trả được nợ,ngân hàng phải đối mặt với rủi ro. Khách hàng là doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp không đánh giá hết được những rủi ro khi sử dụng đồng vốn, đánh giá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lời của đồng vốn.