CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng ngân hàng thương mại a. Khái niệm Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Trong quan hệ đó người cho vay tin tưởng rằng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thoả thuận, làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn [7]. Phân loại tín dụng Hoạt động tín dụng của NHTM rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình kinh doanh khác nhau. Hiện nay, NHTM phân loại tín dụng như sau: - Theo mức độ rủi ro của khoản vay: tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề. - Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay tín chấp.
- Theo phương thức cho vay: cho vay hạn mức tín dụng ngắn hạn, cho vay theo món, cho vay dự án đầu tư, cho vay thấu chi, cho vay đồng tài trợ, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. - Theo hình thức tín dụng: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng. - Theo thời hạn tín dụng: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, tín dụng dài hạn. Luan van 7 - Theo mục đích sử dụng vốn: cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng.
- Theo ngành kinh tế: cho vay nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, bất động sản,. Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại a. Khái niệm Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của Ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, là những thiệt hại, mất mát và tổn thất về tài chính mà ngân hàng gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi. Ngoài ra, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất là khả năng có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Luan van 8 được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.
Theo nhiều quan điểm khác nhau, về cơ bản rủi ro tín dụng bao gồm những nội dung, đặc điểm như sau: - Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán. - Lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì đi đôi với nó là rủi ro tiềm ẩn càng lớn. - Rủi ro là một yếu tố không thể loại trừ hoàn toàn, mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện cũng như tác hại của chúng gây ra.
- Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mang tính gián tiếp. - Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mang tính đa dạng và phức tạp - Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mang tính khách quan. Phân loại rủi ro tín dụng Tuỳ theo tiêu chí phân loại, mục đích và yêu cầu nghiên cứu người ta có thể chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Ø Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Rủi ro tín dụng được phân chia thành hai loại là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk) · Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. Luan van 9 + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng, khi Ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. · Rủi ro danh mục (Portfolio risk): Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng.
Rủi ro danh mục được chia thành hai loại: + Rủi ro tập trung (Concentration) là trường hợp Ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao + Rủi ro nội tại (Intrinsic) là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Ø Căn cứ vào hình thức tài trợ vốn: rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro nội bảng (cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu …) và rủi ro ngoại bảng (bảo lãnh, cam kết thanh toán L/C ….) Ø Căn cứ vào tính chất: rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro sai hẹn và rủi ro mất vốn. Ø Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro: Rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan.
- Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch hoạ, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác Luan van 10 làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. - Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm Quản trị rủi ro: là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, và tối thiểu hoá những tác động bất lợi của rủi ro.
Quá trình quản trị rủi ro bao gồm 4 công đoạn : nhận dạng rủi ro; đo lường rủi ro; kiểm soát rủi ro; tài trợ rủi ro. Quản trị rủi ro tín dụng: là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng [3, tr. Việc quản trị rủi ro tín dụng nhằm đạt các mục tiêu sau: - Đạt Kết quả kinh doanh cao trong giới hạn rủi ro có thể giám sát, chịu đựng được. - Thực hiện đúng các qui định của nhà nước, qui định của pháp luật.
- Quản trị RRTD giúp các NHTM có sự chuẩn bị tốt cho những thay đổi bất lợi, giảm bớt nhạy cảm đối với những thay đổi có hại của môi trường tạo nên sự an toàn, ổn định trong kinh doanh, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của ngân hàng. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng Nội dung quản trị rủi ro tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc quản trị rủi ro tín dụng. Trong đó xây dựng các Luan van 11 bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định. Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ gắn bó với nhau.
Tóm lại, quản trị rủi ro tín dụng của một Ngân hàng luôn tuân theo trình tự bốn bước cụ thể như sau: nhận diện rủi ro tín dụng, đo lường rủi ro tín dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng và tài trợ rủi ro tín dụng. Nhận diện rủi ro tín dụng Khái niệm: Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục, có hệ thống nhằm theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng RRTD, xác định nguyên nhân gây ra rủi ro trong từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra RRTD. Phương pháp: để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã có vấn đề, phương pháp nhận biết các dấu hiệu cảnh báo khoản cấp tín dụng có vấn đề.