Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng của NHTM. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Quân đội. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Quân đội. Em xin chân thành cảm ơn Cô PGS.
Đỗ Thị Kim Hảo và Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Quân đội đã nhiệt tình hƣớng dẫn em trong quá trình thực tập và viết bài. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Mọi hoạt động kinh doanh đều có thể gặp rủi ro, rủi ro và kinh doanh là hai mặt đối lập nhau trong một thể thống nhất của quá trình kinh doanh, chúng luôn tồn tại và mâu thuẫn với nhau. Muốn quá trình kinh doanh tồn tại và phát triển kinh doanh phải khống chế đƣợc rủi ro.
RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả đƣợc nợ (rủi ro mất khả năng chi trả) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng (rủi ro sai hẹn). Căn cứ vào khoản 1 điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD (Ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005), RRTD đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Nhƣ vậy, có thể nói rằng, RRTD xuất hiện trong mối quan hệ kinh tế trong đó ngân hàng là chủ nợ và khách hàng đi vay thực hiện không đúng cam kết trả nợ đã đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Phân loại rủi ro tín dụng Mô hình 1.1: Phân loại RRTD Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro lựa chọn Rủi ro bảo đảm Rủi ro NV Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung 8 Rủi ro giao dịch Là loại RRTD có nguyên nhân từ hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm các bộ phân chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro phát sinh từ việc ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn không có hiệu quả để ra quyết định cấp tín dụng. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo (tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo…) + Rủi ro nghiệp vụ: liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay của NH. Rủi ro danh mục Là loại RRTD phát sinh từ hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng.
Rủi ro danh mục bao gồm hai bộ phận chính: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung + Rủi ro nội tại: xuất phát từ đặc điểm hoạt động và đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: Xuất phát từ việc ngân hàng tập trung vốn vay quá nhiều đối với ngành, lĩnh vực kinh tế, một khu kinh tế hay một loại hình cho vay có mức độ rủi ro cao 1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Thứ nhất, do môi trường kinh doanh Môi trƣờng kinh doanh bao gồm: Môi trƣờng kinh tế, môi trƣờng pháp lý, môi trƣờng chính trị văn hóa xã hội của quốc gia - Môi trƣờng kinh tế: Môi trƣờng kinh tế có tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng nhƣ của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, khả năng trả nợ ngân hàng cao.
Khi nền kinh tế suy thoái, tiêu dùng giảm sút, hàng hóa ứ đọng làm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gặp khó khăn và có ít khả năng trả nợ ngân hàng. 9 - Môi trƣờng pháp lý: Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tƣởng lẫn nhau giƣa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay, do đó hoạt động tín dụng phải tuân thủ pháp luật. Hệ thống luật pháp đƣợc xây dựng chặt chẽ là cơ sở lành mạnh hóa quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với ngân hàng, do đó RRTD sẽ giảm. Ngƣợc lại, khi hệ thống pháp luật lỏng lẻo tạo khe hở cho các hoạt động gian lận thì sẽ làm tăng RRTD.
- Môi trƣờng chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia. Môi trƣờng chính trị ổn định, văn hóa phát triển lành mạnh của một quốc gia sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định phát triển sản xuất, qua đó làm tăng khả năng trả nợ ngân hàng, giảm RRTD. Ngƣợc lại, môi trƣờng chính trị không ổn định, văn hóa không phát triển, các giá trị đạo đức truyền thống bị vi phạm, xã hội rối ren,…không những làm cho doanh nghiệp khó khăn trong ổn định sản xuất, mà còn có thể gặp phải những rủi ro bất khả kháng, làm ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Thứ hai, do khách hàng vay vốn - Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay Tuy số lƣợng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều nhƣng khi sự việc xảy ra hậu quả để lại hết sức nặng nề, gây ảnh hƣởng đến ngân hàng, đến các doanh nghiệp khác.
- Khả năng quản lý kinh doanh kém Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tƣ vào tài sản vật chất, ít doanh nghiệp nào dám mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tƣ đổi mới cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính kế toán. Quy mô kinh doanh mở rộng nhƣng không đồng bộ với tƣ duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của một số phƣơng án kinh doanh. - Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy 10 đủ, chính xác, rõ ràng các loại sổ sách kế toán vẫn chƣa đƣợc các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh theo quy định.
Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi các cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thƣờng thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp nhƣ là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống RRTD. Thứ ba, do bản thân ngân hàng - Thiếu sự giám sát và quản lý sau khi cho vay Việc theo dõi và giám sát khách hàng sau cho vay là hết sức quan trọng.
Thƣờng xuyên thăm hỏi khách hàng, trực tiếp đến thăm tại các cơ sở sản xuất của khách hàng, giúp ngân hàng sớm phát hiện ra đƣợc khó khăn, nguy cơ tiềm ẩn của khách hàng, vừa giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro vừa làm tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng. - Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ ngân hàng Thực tế cho thấy việc tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát nội bộ là một trong những giải pháp hữu hiệu để đảm bảo cho ngân hàng chủ động phòng ngừa rủi ro từ bên trong. Công tác kiểm tra nội bộ sẽ giúp ngân hàng phát hiện và khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót, làm trong sạch đội ngũ cán bộ của ngân hàng, góp phần hạn chế những hành vi tiêu cực có thể dẫn đến RRTD. - Nội dung và quy trình tín dụng chƣa chặt chẽ Ngay từ giai đoạn tiếp nhận hồ sơ, hồ sơ của khách hàng đã không đày đủ, thiếu chính xác, khiến ngân hàng thiếu thông tin, số liệu về khách hàng vay vốn.
Từ đó dẫn đến quyết định không chính xác về thời hạn vay, giá trị khoản vay… + Do trình độ của cán bộ ngân hàng còn yếu kém, do đạo đức nghề nghiệp, do chấp hành các quy định về nghiệp vụ không nghiêm túc. + Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chƣa thực sự hiệu quả. Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt nhƣ hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, 11 chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Tuy nhiên hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chƣa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chƣa đƣợc cập nhật và xử lý kịp thời.
Hậu quả của rủi ro tín dụng Thứ nhất, đối với nền kinh tế NHTM có vai trò quan trọng đối với nền tài chính quốc gia, nếu một ngân hàng gặp rủi ro, có thể dẫn đến phá sản, tác động xấu đến khách hàng và có thể tạo phản ứng dây chuyền đối với toàn hệ thống. RRTD có thể gây ra hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế, làm giảm lòng tin của công chúng váo sự lành mạnh của hệ thống tài chính quốc gia, làm suy giảm uy tín, thu nhập của ngân hàng. Thứ hai, đối với bản thân ngân hàng RRTD làm giảm lợi nhuận ngân hàng: Những khoản tín dụng gặp rủi ro không những làm cho ngân hàng mất đi khoản lãi, mà còn làm cho ngân hàng mất đi một khoản vốn lớn. RRTD làm giảm uy tín của ngân hàng: Đối với những ngân hàng gặp RRTD, sẽ tác động xấu đến khách hàng, làm giảm niềm tin của khách hàng vào sự lành mạnh trong hoạt động tài chính của ngân hàng.
Có thể khách hàng vì lý do sợ ngân hàng phá sản sẽ rút toàn bộ tiền ra khỏi ngân hàng, khiến ngân hàng gặp rủi ro về khả năng thanh toán, từ đó có thể dẫn đến phá sản. Từ những hậu quả do RRTD mang lại nhƣ trên, thì hoạt động QTRRTD là vô cùng quan trọng và cấp thiết trong điều kiện môi trƣờng kinh doanh đầy biến động nhƣ hiện nay. Nó không chỉ đảm bảo an toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn đảm bảo cho nền kinh tế vận hành tốt. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.