CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề lý luận về rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Là một đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, NHTM phải thường xuyên đối mặt với rất nhiều loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro tồn đọng vốn và các loại rủi ro khác. Trong điều kiện hiện nay, tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng và đồng thời rủi ro tín dụng còn là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng.
Sở dĩ vậy vì dư nợ tín dụng thường chiếm tỷ lệ lớn giá trị tổng tài sản và tạo ra một phần không nhỏ nguồn thu của ngân hàng. Do vậy rủi ro tín dụng còn được đề cập đến rất nhiều trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Trong tài liệu “ Financial Institutions Management - A Modem Perpective” Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn, có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107).
Theo Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, 8 “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được coi là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản, dẫn theo hàng loạt các hệ lụy khác trong nền kinh tế. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và mục đích quản lý.
Đối với ngân hàng, việc phân loại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thiết kế chính sách, quy trình, thủ tục và mô hình tổ chức nhằm đảm bảo nhận biết đầy đủ các yếu tố làm phát sinh rủi ro, các phép đo rủi ro tín dụng một cách họp lý cũng như ngưỡng rủi ro mà Ngân hàng có thể chấp nhận được. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng, chia làm 2 loại: - Rủi ro đọng vốn: Là rủi ro xảy ra khi khách hàng vay vốn không hoàn trả nợ đúng thời hạn đã cam kết với ngân hàng. Điều này có thể gây ảnh hưởng tới ngân hàng: + Ảnh hường đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng: Thời hạn của các khoản tín dụng cấp cho khách hàng luôn được xác định rõ trong hợp đồng tín dụng, đó chính là thời gian của một vòng quay vốn tín dụng đối với ngân hàng thương mại. Các khoản nợ quá hạn, trước hết làm cho ngân hàng thương mại không thu hồi được vốn và lãi đúng thời hạn đặt ra trong hợp đồng.
Nếu có thể thu lại được toàn bộ sau một thời gian quá hạn nhất định thì điều đó cũng làm cho thời gian của một vòng quay vốn tín dụng thực tế lớn hơn vòng quay vốn tín dụng đã thoả thuận. Như vậy, nợ quá hạn đã làm giảm tốc độ chu chuyển vốn tín dụng của ngân hàng thương mại, dẫn đến làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng. 9 + Làm giảm khả năng thanh toán, thậm chỉ mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Mặt khác, ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc "đi vay để cho vay", nghĩa là nguồn vốn cấp tín dụng cho khách hàng được thực hiện trên cơ sở vốn huy động được trong xã hội, nên ngân hàng thương mại phải có trách nhiệm cân đối hoạt động cho vay sao cho có thể đảm bảo thực hiện được nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi với các chủ nợ của mình.
Các khoản nợ quá hạn, một mặt làm kéo dài thời hạn của các khoản tín dụng, mặt khác có khả năng dẫn đến việc mất vốn của ngân hàng thương mại và do đó có thể làm cho ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng đến hạn phải trả cho người gửi tiền nhưng vẫn chưa thu được nợ từ người vay, làm giảm khả năng thanh toán và thậm chí có thể làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Việc bị mất khả năng thanh toán tạm thời của ngân hàng thương mại sẽ làm giảm uy tín kinh doanh của ngân hàng một cách nghiệm trọng, có thể dẫn đến hiện tượng những người gửi tiền đồng loạt đòi rút tiền, đẩy ngân hàng đến bờ vực sụp đổ phá sản. - Rủi ro mất vốn: là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay mất khả năng chi trả một phần hoặc toàn bộ vốn vay của ngân hàng (bao gồm gốc, lãi và chi phí). Khi các doanh nghiệp không trả được nợ thì các ngân hàng buộc phải sử dụng các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
Vì vậy có thể gây ra những ảnh hưởng bất lợi cho ngân hàng như: + Tăng chi phí nợ quá hạn và nợ khó đòi, chi giám sát, chi phí pháp lý + Chi phí giảm sút: Vòng quay tín dụng giảm, doanh thu của ngân hàng chậm lại hoặc mất. + Khả năng mất gốc, phải thực hiện dự trữ. Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như: phân loại theo giai đoạn phát sinh rủi ro (rủi ro trong thẩm định, rủi ro khi cho vay, rủi ro trong khi quản lý thu hồi nợ), phân loại theo thời hạn khoản vay (rủi ro theo các khoản vay ngắn hạn, trung - dài hạn), theo đối tượng sử dụng vốn vay. Những dấu hiệu nhận biết sớm rủi ro tín dụng Có rất nhiều dấu hiệu để nhận biết khoản vay có vấn đề.
Dưới đây là một số dấu hiệu rủi ro tín dụng: Nhóm 1: Nhóm dấu hiệu liên quan đến khách hàng: - Thay đổi trong tình hình hoạt động kỉnh doanh của khách hàng: + Dấu hiệu liên quan đến các chỉ tiêu tài chính: - Các chỉ số thanh khoản cho thấy dấu hiệu suy yếu. - Các chỉ số khả năng sinh lời ngày càng giảm. - Cơ cấu vốn không họp lý - Các vòng quay hoạt động thể hiện sự suy yếu ễ Kết quả kinh doanh thua lỗ - Phải thu tăng nhanh và thời hạn thanh toán nợ kéo dài. - Cố tình làm đẹp BCĐTS bằng TS vô hình.
+ Dấu hiệu vấn đề kỹ thuật và thương mại. Chất lượng sản phẩm giảm sút, thị phần thu hẹp. Giới thiệu hay hủy bỏ kinh doanh các sản phẩm chính, là thế mạnh của khách hàng;. Khó khăn trong quá trình phát triển sản phẩm mới hoặc không có sản phẩm thay thế.
Những thay đổi chính sách của NN. Sản phẩm có tính thời vụ cao. Có biểu hiện cắt giảm các chi phí thiết yếu. Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như gia tăng chi phí quảng cáo, bán hàng, chi phí khánh tiết.
Thay đổi trên thị trường về lãi suất, tỷ giá, mất khách hàng lớn, vấn đề thị hiếu… + Dấu hiệu khác. Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh. Hàng tồn kho tăng do không bán được, hư hỏng, lạc hậu. Có sự kỷ luật với cán bộ chủ chốt.
- Thay đổi trong phương pháp quản lý của khách hàng 11 + Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành thay đổi liên tục, luôn bất đồng về quan điểm. + Thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên. + Tranh chấp trong quá trình quản lý. + Chi phí quản lý bất họp lý + Quản lý có tính gia đình.
- Thay đổi trong quan hệ với Ngân hàng + Sự giảm sút bất thường số dư tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, luân chuyển doanh thu hoạt động về tài khoản tại ngân hàng không thường xuyên. + Công nợ gia tăng, có dấu hiệu vay đảo nợ, sử dụng nhiều khoản tài trợ ngắn hạn cho mục đích đầu tư dài hạn; + Yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến; + Chấp nhận sử dụng nguồn vốn lãi suất cao với mọi điều kiện; + Chậm thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Thường xuyên yêu cầu ngân hàng gia hạn nợ. + Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi báo cáo tài chính cho ngân hàng mà không có lý do thuyết phục; Nhóm 2.
Dấu hiệu xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng - Hồ sơ tín dụng không đầy đủ theo qui định của pháp luật và của ngân hàng; - Đánh giá và phân loại thiếu chính xác mức độ rủi ro của khách hàng: như nâng cao năng lực tài chính của khách hàng trong quá trình phân tích, che dấu nợ xấu của khách hàng, có hành vi cho khách hàng vay vốn để thực hiện đảo nợ; - Cho vay khách hàng với tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh; - Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay mập mờ, không xác định rõ lịch trả nợ của từng khoản vay; - Chính sách cấp tín dụng cho khách hàng quá cứng nhắc hoặc lại lỏng lẻo, tạo khe hở cho cán bộ và khách hàng thông đồng. Một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng 1. Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trên tổng dư nợ Nợ quá hạn được hiểu là khoản nợ mà khách hàng không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn như đã thỏa thuận với ngân hàng trên hợp đồng tín dụng. 12 Khi một món nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn.