Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2: Phân tích, đánh giá năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam. Chương 3: Giải pháp để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Hoạt động tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng Thuật ngữ tín dụng (credit) xuất phát từ gốc chữ Latinh là credo, được hiểu là sự tín nhiệm, tin tưởng lẫn nhau.
Theo định nghĩa của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 7 Khóa XII ngày 16 tháng 6 năm 2010, tại Điều 4 có ghi: “ NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” trong đó qui định: “ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Và “ cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng, tại luận văn này tín dụng được hiểu theo nghĩa sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong thời hạn nhất định theo thỏa thuận, và bên vay phải có trách nhệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Hồ Diệu, 2001).2 Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng thƣơng mại Đối với NHTM thì hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản, đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng là một lĩnh vực hoạt động nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, do việc cấp tín dụng dựa trên sự tín nhiệm về thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng.
Đặc biệt trước xu thế hội nhập các ngân hàng sẽ phải đối mặt với cạnh tranh cũng như nhiều loại hình rủi ro khác, những rủi ro này có thể mang những tổn thất nghiêm trọng. 7 Vậy rủi ro tín dụng là gì ? Là khoản lỗ tiềm tàng của vốn được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng. Là những thiệt hại, mất mát ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng. Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực tài chính, nhưng rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng.
Và trên thực tế, còn có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau: Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng rủi ro tín dụng là “ khả năng mà khách hàng vay hoặc đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013, “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.Koch, một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trể hạn (Hồ Diệu, 2002). Fitch, rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng (Hồ Diệu, 2002). Tóm lại, từ các khái niệm trên có thể thấy rằng quan điểm về rủi ro tín dụng có thể được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau, tuy nhiên, về bản chất rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất, thiệt hại về kinh tế mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận.3 Phân loại rủi ro tín dụng Thực tế là rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn, việc xây dựng các tiêu chí phân loại rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất lớn, là cơ sở để thiết lập các chính sách, quy trình và quy mô tổ chức quản trị tín dụng thích hợp và nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng. 8 Phân loại rủi ro tín dụng giúp nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt được rủi ro phát sinh trong từng giai đoạn cấp tín dụng. Sau đây là một số cách phân loại phổ biến: 1.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Thứ nhất rủi ro giao dịch: Là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc từng khách hàng cụ thể.
Đây là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế, sai sót trong quá trình tác nghiệp như thẩm định xét duyệt tín dụng, giải ngân, kiểm soát sau khi cho vay hoặc thực hiện đảm bảo tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro giao dịch bao gồm: Rủi ro lựa chọn đối nghịch: là rủi ro có xuất phát từ quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, nguyên nhân do thông tin bất cân xứng tạo ra trước khi ra quyết định tín dụng. Bên cho vay tin tưởng vào năng lực của người vay mà cho vay, trong khi đó người đi vay với mục đích để vay được vốn đã cung cấp thông tin không trung thực cho bên cho vay. Rủi ro đảm bảo: liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản quy định trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, hình thức bảo đảm và mức cho vay trên tài sản bảo đảm.
Rủi ro nghiệp vụ: Là các rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản nợ có vấn đề. Thứ hai, rủi ro danh mục tín dụng: Là một hình thức rủi ro tín dụng phát sinh mà nguyên nhân là do những hạn chế trong quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng, đây là loại rủi ro vừa mang tính chủ quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan, bao gồm: Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong (nội tại) của mỗi khách hàng hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động hay đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung tín dụng quá mức vào một hay một số khách hàng, vào cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hay cùng khu vực địa lý, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Đây là rủi ro gây hậu quả lớn đến 9 sự tồn tại của ngân hàng.2 Căn cứ vào mức độ tổn thất Rủi ro đọng vốn (do không hoàn trả nợ đúng hạn): Là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn trả nợ theo thỏa thuận mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn, dẫn đến các khoản vốn bị đóng băng và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện là kế hoạch sử dụng vốn và gặp khó khăn trong quản lý thanh khoản của ngân hàng.
Rủi ro mất vốn (do không có khả năng trả nợ): Là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/hoặc lãi, buộc ngân hàng phải thanh lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí do nợ khó đòi và chi phí quản trị, chi phí giám sát, đồng thời làm giảm lợi nhuận do các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng cho những khoản vốn mất đi.3 Căn cứ vào nguyên nhân khách quan hay chủ quan Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến cố bất khả kháng khác làm thất thoát vốn vay trong khi khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng quy trình, chính sách tín dụng, cũng như những điều kiện qui định trong hợp đồng tín dụng, các qui định về quản lý và sử dụng khoản vay. Rủi ro chủ quan: là rủi ro do nguyên nhân thuộc về chủ quan của khách hàng và ngân hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì lý do chủ quan khác.4 Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro tín dụng Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong khâu lập hồ sơ và phân tích, đánh giá sai về khách hàng, khoản tín dụng, dẫn đến quyết định cho vay các khách hàng không đủ điều kiện và không có khả năng trả nợ trong tương lai. Rủi ro trong cho vay: Rủi ro xảy ra trong quy trình giải ngân.
Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: sai sót trong giải ngân, giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên hay không dự báo được rủi ro tiềm năng. Rủi ro sau cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng không nắm bắt được tình hình và mục đích sử dụng vốn vay, thay đổi trong khả năng tài chính, cũng như thiện chí trả nợ của khách hàng.5 Căn cứ vào phạm vi của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng cá biệt: Là rủi ro xảy ra chỉ đối với một khoản tín dụng hay một khách hàng, một danh mục hay một ngành nghề/lĩnh vực cụ thể.