CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 1.1 Khái niệm Tín dụng ngân hàng: (sau đây gọi tắt là tín dụng) là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một chi phí nhất định (Nguyễn Minh Kiều - 2007) Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá tŕnh cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng (Nguyễn Minh Kiều - 2007) Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Xét về khía cạnh của ngân hàng, thì rủi ro tín dụng đồng nghĩa với thu nhập dự tính của ngân hàng từ các tài sản có sinh lời không được hoàn trả đầy đủ cả về mặt số lượng và thời hạn. Có nhiều quan điểm cho rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh ngân hàng, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, việc kiểm soát, kiềm chế thậm chí chấp nhận rủi ro mới là điều kiện cần thiết để ngân hàng đạt được kết quả hoạt động tốt dựa trên cơ sở quản trị rủi ro một cách hiệu quả.2 Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu.
Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Lê Nam Long 4 SVTH: Đặng Việt Hà Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng Theo phương diện quản lý thì rủi ro tín dụng được chia thành hai loại: Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát được: là loại rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro đó, ước lượng tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian chúng phát sinh và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế ở mức thấp nhất. Rủi ro tín dụng không thể kiểm soát được: là loại rủi ro tín dụng mà các ngân hàng không thể dự đoán được, không biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng mà chúng gây ra.
Những rủi ro tín dụng loại này thường không do con người gây ra mà chủ yếu là do những bất lợi về các yếu tố tự nhiên gây ra như hạn hán, lũ lụt, mất mùa hoả hoạn… Các NHTM thường phải tập trung vào ngăn chặn những rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì chỉ còn cách chống đỡ.3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ hai nhóm nguyên nhân: - Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng: Do chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp với đặc điểm, thực trạng của nền kinh tế và chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ. Một chính sách không đầy đủ đúng đắn và thống nhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo kẽ hở cho người sử GVHD: ThS. Lê Nam Long 5 SVTH: Đặng Việt Hà Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng dụng vốn để gian lận chiếm đoạt vốn bất hợp pháp… cuối cùng là không đem lại hiệu quả kinh tế, nguy cơ rủi ro cao. Nguyên nhân là do ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ khâu bảo đảm tín dụng.
Như cán bộ thẩm định đánh giá sai giá trị tài sản đảm bảo bao gồm cả giá trị hiện tại và trong tương lai, hoặc lại quá tin tưởng vào tài sản đảm bảo mà coi nhẹ công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát thực hiện dự án, phòng ngừa rủi ro. Hoặc cũng có thể là sự sụt giảm giá trị của TSBĐ, có thể là do biến động của tình hình giá cả thị trường. Đây là tác động mang tầm vĩ mô, mà bản thân các cán bộ thẩm định cần phải đánh giá chính xác giá trị của TSĐB qua các thời kỳ biến động khác nhau, nếu không sẽ dẫn tới tình trạng cấp tín dụng vượt mức so với quy định an toàn trong việc cấp tín dụng. Một yếu tố luôn ảnh hưởng tới khâu thẩm định của cán bộ tín dụng đó là chất lượng và số lượng thông tin.
Các ngân hàng chưa được cung cấp đầy đủ và chính xác, mặc dù Trung tâm thông tin tín dụng CIC đã được thành lập và đi vào hoạt động nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa cập nhật. Trong nhiều trường hợp ngân hàng không nắm được đầy đủ thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác nên có thể phán quyết sai lầm khi cho vay. Do ngân hàng không thực hiện tốt công tác giám sát tín dụng. Bởi vì, trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng hạn chế, thiếu thực tế, chỉ dựa trên giấy tờ, số liệu báo cáo của khách hàng.
Thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát lấy lệ, hời hợt, chỉ mang tính hình thức, không phản ánh đúng sự thật do chịu áp lực từ cấp Ngoài các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trên, Ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro tín dụng do cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khu vực, một ngành cho nên đã hạn chế sự linh hoạt của ngân hàng trước những biến động của thị trường cạnh tranh, gây ra tổn thất cho ngân hàng. Có thể do công tác thiết kế sản phẩm tín dụng không phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của người vay, hoặc do vẫn còn nặng tính chất quan liêu, quan cách trong hoạt động giao dịch với khách hàng. - Nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng: GVHD: ThS. Lê Nam Long 6 SVTH: Đặng Việt Hà Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý; sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả; do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được; quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản; chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo; do mất đoàn kết trong nội bộ Hội đồng quản trị, ban điều hành.
- Các nguyên nhân khách quan liên quan đến môi trường bên ngoài: Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…; tình hình chính trị, an ninh trong nước, trong khu vực bất ổn; do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường; môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng thường được phản ánh qua những chỉ tiêu cụ thể sau: Tỷ lệ nợ quá hạn: Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đó đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng, là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, khi người vay vi phạm nguyên tắc của tín dụng là phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lời đúng hạn, gây vỡ lòng tin của người cấp tín dụng đối với người được cấp tín dụng. Số dư NQH Tỷ lệ NQH = x 100% (1) Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì càng có nhiều khoản nợ chưa được thanh toán đúng thời hạn, như vậy mức độ rủi ro tín dụng của các ngân hàng sẽ càng lớn. Các ngân hàng thường sử dụng chỉ tiêu nợ quá hạn để đánh giá mức độ rủi ro của tín dụng ngân hàng.
Số KH có nợ quá hạn Tỷ lệ khách hàng NQH = x 100% (2) Tổng số khách hàng đi vay Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng số khách hàng đi vay có bao nhiêu phần trăm là quá hạn, qua đó có thể phản ánh được công tác thẩm định, xem xét khách hàng có hiệu quả hay không. Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ cho vay: GVHD: ThS. Lê Nam Long 7 SVTH: Đặng Việt Hà Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Tài chính – Ngân hàng Số dư nợ xấu x 100% (3) Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ Nợ xấu bao gồm các khoản nợ được chia vào nhóm 3, 4, 5; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cũng là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của các TCTD. Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt, tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng càng kém, khả năng không thu hồi được nợ càng lớn.
Tỷ lệ giữa các khoản nợ xóa trong năm so với tổng dư nợ cho vay Dư nợ các khoản xóa nợ trong năm x 100% (4) Tỷ lệ các khoản xóa nợ = Tổng dư nợ Các khoản xóa nợ là các khoản vay được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi vốn và được phân vào nhóm 5 theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc NHNN. Các khoản vay này được ngân hàng dùng quỹ dự phòng cụ thể để xử lý rủi ro và theo dõi ngoại bảng.