Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh trong giai đoạn từ năm 2016 – 2021. Chương 3: Giải pháp khắc phục hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh. 8 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm RRTD tại các NHTM luôn là vấn đề nóng và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới chính vì vậy mà nhiều quan điểm về RRTD đã được các nhà nghiên cứu đưa ra tiêu biểu có thể kể đến như sau: A.
Saunder và cộng sự (1999) cho rằng RRTD là những tổn thất có thể xảy ra khi Ngân hàng cho vay hay RRTD còn được định nghĩa là loại rủi ro mà khách hàng không tuân thủ nghĩa vụ trả nợ (Bessis, J. Theo Ara Hosna và các cộng sự (2009), RRTD là rủi ro liên quan đến các khoản vay. Phan Thị Thu Hà (2007) định nghĩa RRTD là những tổn thất ngoài dự kiến có thể xảy ra đối với ngân hàng vì lý do khách hàng không trả đầy đủ vốn và lãi đúng hạn. Một cách định nghĩa khác của RRTD theo Ủy Ban Basel thì RRTD là xác suất mà bên vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết.
Trong khi đó thì Joel Bessis (2001) lại cho rằng RRTD là những mất mát do khách hàng không trả được nợ mà ngân hàng phải gánh chịu. Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về RRTD nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều cho rằng RRTD là những tổn thất về tài chính xuất phát từ việc người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết. RRTD xuất hiện trong các hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng như: Cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, …. Đây là loại rủi ro gắn với chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.2 Phân loại Tùy thuộc vào nguyên nhân mà RRTD được chia ra các loại như sau: 9 Hình 1.2-1 Phân loại rủi ro tín dụng • Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch là loại RRTD gắn liền với quá trình giao dịch cho vay đối với khách hàng.
Rủi ro giao dịch được chia thành các thành phần như sau: o Rủi ro lựa chọn: Là loại rủi ro gắn liền với quá trình thực việc đánh giá và lựa chọn phương án vay vốn khả thi để cho vay. o Rủi ro bảo đảm: là loại rủi ro phát sinh từ những quy định đảm bảo chẳng hạn như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo, … o Rủi ro nghiệp vụ: là loại rủi ro phát sinh trong công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay. • Rủi ro danh mục Rủi ro danh mục là loại RRTD do những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Bao gồm: o Rủi ro nội tại: là loại rủi ro phát sinh từ các đặc điểm, yếu tố mang tính chất riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc của ngành, lĩnh vực kinh tế.
Rủi ro nội tại có thể xuất phát từ những đặc điểm hoạt động mang tính chất riêng biệt của ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc đặc điểm sử dụng vốn của mỗi khách hàng. o Rủi ro tập trung: là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng tập trung cho vay đối với một khách hàng, hoặc cho vay quá nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một ngành, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.3 Một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng • Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn (Non performing loan - NPL) là khoản nợ bao gồm cả phần gốc và/hoặc lãi bị quá hạn mà người vay không trả được cho TCTD đúng thời hạn như đã thỏa thuận. Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết được chất lượng tín dụng tại ngân hàng, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp, RRTD càng cao. Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ cho Theo Thông tư số: 02/2013/TT-NHNN vay ngày 21/01/2013 của NHNN, nợ quá hạn được phân loại theo thời gian và được chia thành các nhóm: - Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) là các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày.
Tổng dư nợ cho vay - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày. vay nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) là các khoản - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. • Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay Tương tự như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu cũng cho biết về chất lượng tín dụng của một tổ chức tín dụng.
Trong đó, nợ xấu là khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3, 4, 5 theo phân loại nợ của NHNN. Dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dư nợ cho vay Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. vay an toàn cho phép là 3%. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ xấu ở mức • Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD Theo Thông tư số: 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 thì “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn 11 thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung” Tỷ lệ Dự phòng RRTD được trích lập trích lập = x 100% dự phòng RRTD Tổng dư nợ cho vay Cũng theo đó, “Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể”. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: - Nhóm 1: 0%; - Nhóm 2: 5%; - Nhóm 3: 20%; - Nhóm 4: 50%; - Nhóm 5: 100% Còn đối với Dự phòng chung Số tiền dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Mục đích của việc trích lập dự phòng rủi ro là để bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ có thể xảy ra của TCTD. Việc NH trích lập dự phòng đầy đủ và kịp thời giúp NH không bị lúng túng khi rủi ro xảy ra, hướng tới việc phát triển bền vững trong tương lai.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại • Nguyên nhân từ phía ngân hàng RRTD có thể xuất phát từ nội tại của ngân hàng trong chính sách QTRRTD và yếu tố con người bên trong ngân hàng như: o Hoạch định chính sách QTRRTD chưa theo kịp với tình hình phát triển.
o Việc kiểm tra còn mang tính hình thức, chưa nghiêm túc. o Danh mục tín dụng còn tập trung vào một số ngành, một số khách hàng, chưa đa dạng hóa từ đó dễ phát sinh rủi ro tập trung. o CBTD và cán bộ thẩm định chưa cẩn thận, chưa kỹ lưỡng, thiếu kinh nghiệm dẫn đến có thể bỏ qua một số yếu tố và cho vay sai. 12 o Chuyên môn còn yếu kém, hạn chế về nghiệp vụ ngân hàng, hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng.
o Đạo đức nghề nghiệp: CBTD vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bắt tay với khách hàng để trục lợi, hoặc để cho vay dưới tiêu chuẩn, trái quy định từ đó gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho ngân hàng. o Việc quản lý, sử dụng, phúc lợi cho nhân viên chưa thỏa đáng có thể gây ra xung đột giữa trách nhiệm và quyền lợi, giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung từ dẫn đến những quan điểm tiêu cực trong cho vay. o Ngân hàng chưa cân đối hợp lý giữa việc huy động và sử dụng vốn, cụ thể là: Dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh toán hoặc dự trữ quá nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng vốn; hoặc lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá mức quy định. o Các NHTM cạnh tranh để dành thị phần dẫn đến cho vay sơ sài, bỏ qua một số điều kiện theo yêu cầu NHNN đưa ra.
• Nguyên nhân từ phía khách hàng Việc khách hàng không trả nợ vay theo đúng thỏa thuận ban đầu nguyên nhân có thể do khách quan và chủ quan từ chính khách hàng vay vốn đó: o Do khách hàng mất năng lực pháp luật và hành vi dân sự; o Do năng lực quản lý tài chính của khách hàng yếu kém, sử dụng vốn không đúng mục đích dẫn tới trình trạng thua lỗ, giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. o Khách hàng vay vốn tại nhiều TCTD dưới nhiều danh nghĩa khác nhau như vay cá nhân, hoặc vay công ty. nên khó theo dõi được dòng tiền và nguồn thu lợi nhuận của khách hàng. o Về vấn đề đạo đức: khách hàng thiếu thiện chí trả nợ, không muốn trả nợ, bỏ trốn khỏi địa phương trong khi biện pháp xử lý thu hồi nợ của Ngân hàng tỏ ra kém hữu hiệu.
o Giá trị tài sản thế chấp thay đổi do khách hàng quản lý tài sản không tốt làm tài sản mất mát, hư hỏng, hao mòn. • Nguyên nhân khác Một số nguyên nhân khác trong vấn đề kinh tế vĩ mô có thể kế đến như: 13 o Tình trạng bất cân xứng thông tin có thể dẫn đến những trường hợp cho vay không chính xác, ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng và gây ra rủi ro. o Rủi ro từ các yếu tố khách quan tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của khách hàng khiến họ giảm hoặc mất khả năng trả nợ do kinh doanh thua lỗ. o Môi trường kinh tế bất ổn: Các yếu tố của nền kinh tế như chu kỳ kinh tế, lãi suất thị trường, tỷ giá, lạm phát thất nghiệp,… tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của người vay vốn, ảnh hưởng đến nguồn trả nợ.
o Môi trường pháp lý còn thiếu sót và chồng chéo gây mâu thuẫn: những khe hở trong chính sách, quy định, luật lệ rất dễ bị lợi dụng. o Tình hình chính trị không ổn định gây tâm lý lo ngại cho nhà đầu tư, những khoản đầu tư trong nước thường có rủi ro lớn dễ gây thiệt hại cho ngân hàng.