CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Peter S.Rose, (2001), Quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính thì RRTD là việc không thể thu hồi hay giảm giá trị một số tài sản của NH. Bởi vì vốn chủ sở hữu của NH so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy NH đến nguy cơ phá sản. Qua đó có thể thấy rằng RRTD là một trong những rủi ro quan trọng mà nhà quản trị cần quan tâm để đảm bảo cho NH hoạt động an toàn và đạt được các mục tiêu đã đề ra. Mặt khác, theo Ủy ban Basel, RRTD là khả năng KH không đáp ứng được các nghĩa vụ theo cam kết đã thỏa thuận, bao gồm các cam kết liên quan đến việc trả nợ gốc, lãi và cam kết về thời hạn trả nợ.
Nếu RRTD không được quản trị hiệu quả có thể dẫn đến tình trạng nợ xấu, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của NH và gây ra tác động xấu cho toàn hệ thống NH nói riêng và thị trường tài chính nói chung.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng Thứ nhất, RRTD có tính chất gián tiếp. Vì rủi ro trong hoạt động kinh doanh của KH là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến RRTD của NH. Thứ hai, RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp. Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp về nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc thù của lĩnh vực tài chính và kinh doanh tiền tệ.
Khi phòng ngừa, xử lý RRTD, nhà quản trị cần chú ý đến mọi dấu hiệu, bản chất của vấn đề xảy ra để áp dụng biện pháp phù hợp. Thứ ba, RRTD có tính tất yếu. RRTD luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM. Điều này xuất phát từ tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho NH không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện, đầy đủ, dẫn đến việc bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với NH.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Phân loại rủi ro tín dụng: Mục đích của việc phân loại RRTD là để nhà quản trị nhìn nhận rủi ro từ các góc độ khác nhau và có biện pháp phòng ngừa, xử lý thích hợp. Một số tiêu chí phân loại RRTD cụ thể như sau: 1.1 Căn cứ vào phương diện quản lý rủi ro tín dụng Theo tiêu chí này, RRTD được phân thành 2 loại: Rủi ro có thể kiểm soát được: là loại RRTD mà NH có thể phần nào dự đoán được chủ thể gây ra rủi ro, ước tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian phát sinh và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế tổn thất. Rủi ro không thể kiểm soát được: là loại RRTD mà NH không thể dự đoán được, không biết sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được một cách chính xác nhất những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.2 Căn cứ vào mức độ tổn thất Theo tiêu chí này, RRTD được phân thành 2 loại: Rủi ro đọng vốn: là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn mà NH vẫn chưa thu đầy đủ số vốn đã cấp tín dụng. Rủi ro mất vốn: là rủi ro xảy ra khi KH mất hoàn toàn khả năng trả nợ, bao gồm cả vốn gốc và lãi vay.3 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Theo tiêu chí này, RRTD được phân thành 2 loại [Trần Huy Hoàng (2010), Quản trị NHTM, nhà xuất bản Lao động] Rủi ro giao dịch: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH.
Rủi ro giao dịch liên quan đến từng khoản tín dụng mỗi khi NH ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho KH. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn: là loại rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá, phân tích tín dụng khi NH lựa chọn những phương án hiệu quả để quyết định cho vay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Rủi ro bảo đảm: là rủi ro liên quan đến các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, hình thức tín dụng và mức tài trợ trên giá trị tài sản bảo đảm.
Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, thể hiện qua quy trình kiểm soát, theo dõi khoản vay trước, trong, sau khi cho vay và các biện pháp xử lý khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là rủi ro liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của NH. Rủi ro xảy ra do sản phẩm tín dụng không phù hợp hoặc quá tập trung tín dụng vào một ngành, một lĩnh vực nào đó. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố bên trong, các đặc điểm riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế. Rủi ro tập trung: là rủi ro phát sinh trong trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số KH, nhóm KH, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.4 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 1.1 Nguyên nhân khách quan RRTD có thể xảy ra khi môi trường kinh tế không thuận lợi, cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước còn bất cập, khung pháp lý đối với hoạt động NH chưa chặt chẽ. Một cá nhân hay doanh nghiệp khi đi vay đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự thay đổi chính sách của chính phủ. Sự thay đổi về các chỉ số cán cân thanh toán, hoạt động xuất nhập khẩu, giá trị của đồng tiền nội địa hay sự thay đổi các văn bản luật dân sự.
sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình hoạt động kinh doanh cũng như kế hoạch trả nợ của cá nhân, doanh nghiệp trong tương lai. Mặt khác, tình hình kinh tế thế giới cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng như: sự biến động của giá vàng thế giới, giá của các loại ngoại tệ mạnh và cuối cùng là những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nguyên nhân chủ quan Nhóm nguyên nhân từ phía KH RRTD xuất phát từ nhóm nguyên nhân chủ quan của KH có thể là do tình hình sản xuất kinh doanh biến động theo hướng tiêu cực, tình hình tài chính bất ổn, công tác quản lý hoạt động kinh doanh kém hiệu quả. Bên cạnh đó, KH có thể không trung thực trong quá trình cung cấp thông tin cho NH, sử dụng vốn sai mục đích, thiếu thiện chí trả nợ và thái độ hợp tác hoặc có chủ đích lừa đảo NH.
Nhóm nguyên nhân từ phía NH RRTD xuất phát từ nhóm nguyên nhân chủ quan của NH có thể là do chính sách tín dụng, quyết định của NH trong quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy trình cấp tín dụng, xác định và kiểm soát hạn mức cấp tín dụng hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức của cán bộ tín dụng. Chính sách tín dụng quá tập trung vào tài sản bảo đảm, thiếu quan tâm đến khả năng trả nợ thực tế, một quy trình tín dụng chưa chặt chẽ, việc xác định hạn mức cho vay và thời hạn cho vay không đúng theo tình hình thực tế của dự án sẽ dẫn đến những rủi ro nhất định cho NH. Bên cạnh đó, việc buông lõng công tác giám sát việc sử dụng vốn của KH cũng đưa đến nguy cơ sử dụng vốn sai mục đích, làm giảm khả năng trả nợ của KH so với khi thẩm định. Quyết định về tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong việc cấp tín dụng.
Do áp lực về việc chạy theo chỉ tiêu tín dụng nên những hồ sơ có vấn đề vẫn được NH xem xét cấp tín dụng và chấp nhận rủi ro. Ngoài ra,vẫn còn một bộ phận cán bộ tín dụng thiếu năng lực chuyên môn trong việc thẩm định hồ sơ tín dụng, không tuân thủ đúng quy trình tín dụng, thiếu đạo đức nghề nghiệp, vì lòng tham có thể cố tình làm sai luật, thậm chí làm giả hồ sơ để KH có thể vay được vốn NH. Nhóm nguyên nhân từ phía tài sản đảm bảo tín dụng RRTD xuất phát từ nhóm nguyên nhân tài sản đảm bảo tín dụng có thể là do sự sụt giảm giá trị và những khó khăn, bất cập trong quá trình xử lý tài sản để thu hồi nợ. Sự sụt giảm giá trị của tài sản bảo đảm bắt nguồn từ sự hao mòn trong quá trình KH khai thác, sử dụng tài sản hoặc do giá thị trường biến động.
Mặt khác, NH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 sẽ gặp rủi ro trong quá trình nắm giữ và xử lý tài sản bảo đảm khi KH đã thế chấp tài sản cho NH nhưng cố tình làm hư hỏng, cất giấu, gây khó khăn trong công tác thanh lý tài sản khiến NH không thể thu hồi vốn. Song song đó, các văn bản pháp lý có liên quan đến tài sản bảo đảm còn chưa chặt chẽ và đồng bộ. Điều này gây nhiều khó khăn và hạn chế khả năng pháp lý của NH trong quá trình xử lý tài sản.5 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 1.1 Đối với ngân hàng RRTD làm giảm uy tín và có thể dẫn đến sự phá sản NH Khi một NH có mức độ RRTD cao thì NH đó sẽ đứng trước nguy cơ mất uy tín trên thị trường. Không KH nào muốn ký thác tài sản của mình vào một NH có tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu vượt quá mức cho phép, chất lượng tín dụng không tốt và đã xảy ra nhiều vụ thất thoát lớn.
Thông tin về việc NH này có mức độ rủi ro cao thường được lan truyền nhanh trong chóng khiến cho việc huy động vốn của NH gặp rất nhiều khó khăn hơn.